Trần Xuân An - BÚA LIỀM SAO LIÊN XÔ Ở BẾN HẢI, đủ cho mắt người lính cũ nhìn xưa

ĐẦU SÁCH THỨ NĂM MƯƠI (49/50)

BÚA LIỀM SAO LIÊN XÔ Ở BẾN HẢI
đủ cho mắt người lính cũ nhìn xưa
(quốc kì, đảng kì, trực quan sinh động)
Thơ hoà giải dân tộc — Đầu sách thứ 49/50

BÚA LIỀM SAO LIÊN XÔ Ở BẾN HẢI
Đủ cho mắt nhìn người lính thuở đó: quốc kì, đảng kì, trực quan sinh động 
(Thơ hoà giải dân tộc — Đầu sách thứ 49/50)


11-04-2021
Văn mới viết từ tháng 04-2021  


.

Bài 1

NHÌN NGẮM KĨ LINGA – YONI,
VỚI TINH THẦN KHOA HỌC
Trần Xuân An

nhịp điệu tạo nên sự sống
linga yoni linga yoni thánh thiêng vô cùng
tôi thấy cái nhìn từ bên trong tử cung
và thấy tư thế nam nữ làm nên dấu cộng

nguyên âm nguyên dương trập trập trùng trùng
lung linh lật ra, quanh chân linga, linh lung
yoni in dấu như triện đóng
trong tháp cổ bập bùng

đứng trước linga yoni, tôi là người Kinh, kính trọng
bằng cái nhìn noãn gặp tinh trùng
phải chăng tôn thờ tượng thụ tinh, truyền giống
phồn thực, nghiêm cẩn, thuỷ chung.

T.X.A.
trưa 06-04-2021
(nhân cuộc tranh luận giữa nhà thơ Thạch Quỳ, giáo sư La Khắc Hoà và nhà thơ Trần Mạnh Hảo về việc dịch một bài thơ có từ Pi-giơ-du / пизду của Puskin).
———-

Lời bàn của T.X.A. ở FB Quỳ Thạch:
Cái LINGA (dương vật, cái nõn) và cái YONI (âm hộ, cái nường), linh vật tôn giáo của người ẤN ĐỘ, người CHĂMPA, xin xem kĩ, rằng cặp nõn nường ấy đã được vẽ, điêu khắc không phải từ bên ngoài nhìn vào, mà NHÌN TỪ TRONG TỬ CUNG, thấy dương vật trong âm đạo. Nói cách khác là CHỈ THẤY PHÍA TRONG ÂM HỘ, như hình giáo khoa trường y (y khoa, y học).
Lí giải cách khác, cặp sinh thực khí đó đã được cách điệu.
Thế là nhã hoá cái thật, rất thật, thật đến tục.
Còn bức tranh L’ORIGINE DU MONDE của Jean Désiré Gustave Courbet (1819-1877) thì thể hiện CÁI NHÌN TỪ BÊN NGOÀI NHÌN VÀO.

.https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2867149823558950/

Ảnh: Tượng nguyên khối Linga - Yoni thế kỉ IX ở Mỹ Sơn, VietnamNet. vn, Google search.

.


.

4C873D2D-12AD-496A-9C49-C4B155F03C9A

Bài 2
TỰ DO, ĐỘC LẬP
Trần Xuân An


đầu đội trời, mây bay,
            chân đạp đất, bụi lầy
nhà giáo, nhà sử, nhà văn chương, 
            bút cày,
            giữa đời thanh cao xen ô trọc
không để kẻ nào ngồi trên tóc
không đạp ai dưới chân,
             thương giun kiến cõi này!

huyết thống thuần Kinh,
             Tổ quốc Việt tôi đây
phận người, công dân,
             không là mây bay, bụi lầy
viết hoà giải theo Hiệp định Paris,
             hoà hợp, tôi vẫn hội viên
             Hội Nhà văn Thành phố Bác
phận người thì không thể bụi lầy, mây bay.

T.X.A.
09:23-09:45, 13-04-2021

.

Bài 3
ĐẤT CỌNG QUE *,
HỒI CƯ 12-1973, 05-1975…
Trần Xuân An

đất cọng que, thời chiến tranh, Quảng Trị 
thương ruột thịt, xôi đậu cả tâm tình
chạy rồi chạy… Hồi cư luôn, là phước
dù bo bo, khoai sắn độn hoà bình

“nguỵ” và “phiến”, cọng và que, một thuở
Quảng Trị ơi, đâu chỉ Quảng Trị mình
cả đất nước không đâu không xôi đậu
nỗi cọng que, xôi đậu, tận tâm linh

hãnh tiến chi, “nguỵ” xưa như “phiến” cũ
đất đồng bào, cọng cũ như que xưa
nếp nhân dân, đậu vàng như đậu đỏ
thuận hoà mưa mùa nắng, nắng mùa mưa.

T.X.A.
20-04-2021 (09-03 âl.)
…………..


(*) Từ ngữ có tính lịch sử, xuất hiện phổ biến từ trước 1975: Đất Que Cọng hay Đất Cọng Que: Các nơi chốn Quốc gia và Cộng sản xen kẽ nhau. Xôi đậu cũng có nghĩa như vậy. Theo từ điển Hán – Việt (online, “Hán -Việt tự điển” của Thiều Chửu, Nxb. TP.HCM., 1999): “Phiến” (xúi giục, giúp kẻ ác): phiến quân, phiến cộng; “nguỵ” (giả dối, bù nhìn, giặc): nguỵ quân, nguỵ quyền.

Bổ chú:
Ở Miền Bắc có cụm từ “tác phẩm trong ngăn kéo tủ”. Thì ra, tâm hồn, tư tưởng nhà văn chương cũng có nhiều ngăn: đỏ, vàng, xanh, lam, tím… Các ngăn đó được xếp hàng ngang theo thời điểm, thời đoạn và được xếp hàng dọc theo năm tháng tuổi đời, theo tiến trình nhận thức, theo chuyển biến chính trị, xã hội, khiến họ thấy rõ thực tiễn. Tâm hồn, tư tưởng họ cũng xôi đậu, cọng que. Chế Lan Viên là rõ nhất… Cũng không ai ngờ Nguyễn Khải lại có những tác phẩm cuối đời như vậy… Còn nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, ngay từ trước hoặc sau năm 1980 chút ít, ông ấy đã nói thật là “có nhiều ngăn kéo” như thế, mà hồi đó, tôi đã nghe nói!… 30 năm qua, sau Cởi trói, tất cả các vị hẳn đã công bố hết!

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2877235932550339/

Ảnh sông Thạch Hãn (2018):


Bài 4
THƠ THÁNG TƯ 2021
Trần Xuân An

~ bại, tù, qua Mỹ, u sầu
thắng, nhưng Nga ngự trên đầu ông cha!
ngẫm bốn nghìn năm, xót xa
lính còn cội rễ, thương ta thương mình!
(T.X.A.) ~

lệ thuộc ngoại xâm,
          để chống ngoại xâm,
          thành nội chiến |
thành điểm nóng Chiến tranh Lạnh,
          thật ra hai bên chỉ Mỹ với Nga: |
ý hệ và súng đạn |
bại, mãn tù, bứt gốc, qua Mỹ,
          thắng, nhưng Nga trên đầu ông cha! |

không Minh Mạng,
          hẳn Gia Long nghìn đời tủi nhục |
mừng thống nhất, hoà bình,
          khóc đau mà lại ha ha |
hãy tin đi,
          hai trận sóng thần từ Châu Âu ấy |
chỉ còn bình sọ với chín đoá hoa |

bình sọ bảy đoá trong tôi,
          thời còn đi dạy học |
ai đó bảo, Bác Hồ là Gia Long,
          Lê Duẩn là Minh Mạng,
          nhưng không… |
chỉ một nửa Minh Mạng:
          đánh đuổi mao-isme |
hiểu “nguỵ” và “phiến”,
          sông Hiền Lương chỉ một màu trong |

thương thay Lý Trần Quán, Phạm Thái |
và cả Cao Bá Quát phù Lê đã tiêu vong |
tháng tư, tháng tư, dân tộc ta là một,
          mọi người là Minh Mạng |
gội rửa bùn
          sóng thần Nga đỏ,
          còn dơ tóc, còn đọng triệu lòng |

tôi chỉ là hạt cát trắng |
chưa từng cầm súng bao giờ |
hiểu rằng tuy lệ thuộc, trong thế cờ,
          Bác Hồ, Lê Duẩn mãi hoài đáng kính |
thương hai vị như dân tộc mình,
          vết ngoại cường, còn cặn, còn dơ |

tôi thương
          bao người Quốc gia, Cộng hoà cũ |
nghe, đọc quá nhiều, nội chiến nội tâm |
trầm uất, thoát li đời, đau nhược tiểu |
hào hùng, về say đổ quán, lệ thầm |

tự vệ gì nổi, hỡi các bác, các anh,
          trước nửa đồng bào Miền Trại lính! |
chuyên chính với từng câu văn, giọng ngâm |
Quốc gia, Cộng hoà đành thua Cộng sản |
dù cũng như nhau
          — đều lệ thuộc ngoại xâm —
          chống hai phía ngoại xâm! |

tháng tư, tôi lại làm thơ hoà giải |
sau bảy năm dài,
          để trong nước mình,
          hoà hợp với nhau |
kính tặng bức tranh bình xương sọ |
chín đoá đỏ vàng lam,
          viết sách cho hôm nay,
          nghìn sau |

Quốc gia, Cộng hoà,
          bao người lính cũ |
không dắt dìu cháu con,
          lìa Tổ quốc, lưu vong |
mừng mãi còn nơi cội rễ,
          còn Nắng vàng tiểu sử |
dựa ngoại xâm, để chống ngoại xâm,
          khác chi lính Cộng sản Mưa hồng. |

T.X.A.
06:36-08:01, 26-04-2021
……………


(*) Lý Trần Quán, Phạm Thái trung với vua Lê, chúa Trịnh, thời Quang Trung bình Bắc; Cao Bá Quát, thời vua Tự Đức triều Nguyễn.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2881487202125212/

Bài 5

LỤC BÁT THÁNG TƯ 2021

Trần Xuân An

đánh ngoại xâm nào cũng công
hiểu nhau một chút cho lòng vơi đi

xưa vàng hát thảm làm chi!
bắn trong nội chiến có gì thảm hơn!

cờ quạt ngoại xâm đỏ còn
người mừng đại thắng tự non chất người

thì thôi, vui, buồn cùng vơi
đỏ vàng lam, bình sọ ngời chín bông.

T.X.A.
29-04-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2883927471881185/

Bài 6

THÔI NGHIÊNG LỆCH MỪNG
30-04 (2021)
Trần Xuân An

đỏ – vàng, hai Khối, một sông
Hiền Lương gánh máu, nước trong lại rồi

ai mừng nửa Bắc, còn tôi
mừng cả Nam, chín đoá tươi hai bờ

sự thật chín đoá vào thơ
ngọc bình sọ. Sử bao giờ sáng ra?

nửa sông sự thật mù sa
vàng lam bốn đoá vẫn là hiển nhiên

sông hai bờ, không một riêng
Chiến tranh Lạnh dứt, thôi nghiêng lệch mừng.

T.X.A.
06:02-08:25, 30-04-2021
………………

(*) Chiến tranh Lạnh (Chiến tranh Ý thức hệ): 1945-1975-1991.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2884401631833769/
.

.
Bài 7

LÁ CỜ HỪNG ĐÔNG TRÊN BIỂN
Trần Xuân An

có một hừng đông đỏ trong tôi |
với ngôi sao Mai trên đường chân trời |
loé sáng trên mặt biển mênh mông biếc |
nhìn vào cảnh thiên nhiên, tôi nào biết |

cờ Giải phóng Miền Nam, đảo ngược cõi đời *|
mãi đến bảy năm sau, tôi mới hiểu ra sự thể |
(trước Chiến tranh Lạnh vỡ tan trận thế) |
vâng, có bảy năm hừng đông tôi sáng trong |

dù trời xanh không còn trên màu cờ đất đỏ |
đội đất máu, từ thắp sao Mai đến sao Hôm tỏ |
thật ra, chúng ta bị biểu tượng đánh lừa |
ẩn dụ lấp láy, thì ngữ cảnh định nét thiếu thừa |

thật ra, búa liềm công nông, sao chủ nghĩa |
trên màu chiến đấu – sóng thần Nga một phía |
tôi đến giờ vẫn rạng đông Biển Đông, sao Mai ngời |
cờ Giải phóng thôi ngược, mà xuôi |

toàn vẹn Đất và Nước muôn đời |
thật ra, không cờ quạt nào cả |
khắc hai chữ Việt Nam trên sóng, đảo và đá |
Đất ruộng rừng, Nước biển sông, Tổ quốc cả bầu Trời |

sự thật lá cờ thuở học trò, tuy còn nhớ |
nhưng bão lịch sử cuốn bay, sao vàng giác ngộ đỏ: |
Tổ quốc chỉ là giai cấp, chủ nghĩa, tái tạo loài người |
muôn triệu tháng năm máu xương lót đường,
          ngỡ tất yếu thôi! |

“Bài ca Tháng Mười”: ngôi sao Tháng Tám **|
định nghĩa lá cờ, sách cũ càng, khắc chạm |
Ba mươi tháng Tư này, lật lại trang kí ức xưa |
kính tặng phe thua rằng, từ Xô-viết Nghệ Tĩnh,
          Bến Hải đã vết cưa. |

T.X.A.
08:40-10:25, 30-04-2021
……………

(*) Tố Hữu, “Nước non ngàn dặm” (1973):
”… Lá cờ nửa đỏ, nửa xanh
Màu đỏ của đất, màu xanh của trời
Ngôi sao – chân lí của đời
Việt Nam – vàng của lòng người hôm nay…”
.
Lưu ý: Cờ Mặt trận đảo ngược, màu xanh trời ở dưới, màu đỏ đất ở trên! Và NGÔI SAO là CHÂN LÍ CỦA ĐỜI, tức là chủ nghĩa Marx-Lenin.
Về cờ Tổ quốc:
Búa liềm vàng khối (công nông), ngôi sao năm cánh viền vàng (chủ nghĩa) trên nền cờ đỏ (màu chiến đấu) là cờ Liên Xô. Cờ Tổ quốc và cờ Đảng ở nước ta cũng thế (ngôi sao năm cánh viền vàng hay vàng khối cũng là chủ nghĩa Mác-Lê, chân lí). Cờ Tổ quốc chính là cờ chủ nghĩa. Tôi nói: CỜ TỔ QUỐC CHÍNH LÀ CỜ CHỦ NGHĨA (HỌC THUYẾT) – BIỂU TRƯNG LÀ NGÔI SAO (CHỦ NGHĨA) DẪN ĐƯỜNG. Xin nhấn mạnh.
Cứ liệu khác:
Không phải dân tộc, đất nước, mà “chủ nghĩa xã hội […] là Tổ quốc” (Từ điển triết học”, bản tiếng Việt, Nxb. Tiến Bộ, Mát-x-cơ-va, 1975, liên kết với Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1986, tr. 712-713.).
Chủ nghĩa xã hội là toàn thể hệ thống xã hội chủ nghĩa macxit-leninit trên thế giới, trong đó có Tổ quốc cụ thể, chứ không chỉ là Tổ quốc cụ thể.
Theo đó, 1) Chủ nghĩa xã hội là học thuyết xã hội chủ nghĩa khoa học macxit-leninit; 2) Chủ nghĩa xã hội là hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, đứng đầu là Liên Xô. Ngoài ra, có một nghĩa nữa: 3) Chủ nghĩa xã hội là hiện thực xã hội, mức độ phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa (ví dụ “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH.”).
Do đó, cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc rất dài lâu, vì bị lệ thuộc vào Liên Xô (và Trung Quốc, nước được uỷ nhiệm), rơi hẳn vào Chiến tranh Ý thức hệ (Chiến tranh Lạnh): Phải chiến đấu cho cả hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (theo khái niệm Tổ quốc xã hội chủ nghĩa), đụng đầu với Khối phi-đỏ do Mỹ đứng đầu. Nếu vì độc lập, thì đến nay chưa có quốc kì độc lập dân tộc – quốc gia. Nếu vì lí tưởng cộng sản chủ nghĩa, thì hãy còn chiến đấu đến nghìn năm…
(**) Thơ Tố Hữu, “Bài ca Tháng Mười” (1950): “Đây Việt Nam Tháng Tám | Em Liên Xô Tháng Mười!”.

Góp ý có tính chất xây dựng:
VÈ VẼ ĐỒNG DAO 30-04
Trần Xuân An

Đánh, chiếm Dinh Độc Lập
Lại treo cờ Liên Xô
Tạm nghĩ là hình thức
Bản chất đâu phải nô

Cờ Mặt trận, cờ ngược
Tố Hữu viết, chưa mờ
Búa liềm, viền sao đỏ
Cũng một chân-lí-mơ:
Sao vàng, đâu khác được! *

“Bán nước” để cứu nước
Sử hồng còn vết dơ
Nguyên nhân nội chiến ấy
Vè vẽ nghĩa không mờ.

T.X.A.
28-04-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2884474781826454/

Bài 8

NÓI CHO CÔNG BẰNG,

NHÂN LỄ QUỐC TẾ LAO ĐỘNG
Trần Xuân An

không mất tấc đất, tấc đảo nào,
          Việt Nam cộng hoà độc lập |
(trừ đảo Ba Bình,
          chưa kịp đuổi cướp Đài Loan) |
nếu không bị Miền Bắc và Khối Đỏ tiến đánh |
không nước nào có thể lũng đoạn Miền Nam,
          cho dù Mỹ, Vatican |

túi tham điền chủ, tư sản |
không dám chứa đầy máu, nước mắt, mồ hôi |
thời man rợ đã xa xưa,
          Nhân quyền đã trao quyền tranh đấu |
túi tham bóc lột nhỏ lại rồi |

Miền Nam xưa
          cũng như cả nước bây giờ hội nhập |
nhưng đa đảng, có nghiệp đoàn công nhân,
          hiệp hội nông dân |
nhà trường dạy bảo:
          kính người cầm cày, người thợ… |
nhớ Lễ Lao động xưa, viết cho công bằng |

sự thật lịch sử như Triều Tiên, Hàn Quốc |
(Mỹ đuổi Pháp như đuổi Nhật,
          đau là đã muộn hơn) |
nay vẫn còn con người hai Miền
          thời chia cắt |
đời sống ư? Bao tấm ảnh
          Bắc Việt, Nam Việt hồi đó vẫn còn |

nếu so với chế độ, xã hội lí tưởng |
Việt Nam cộng hoà đáng lên án trăm lần |
nhưng chế độ, xã hội lí tưởng có đâu!
          Chỉ là mộng mị, tan vỡ |
Lễ Lao động ơi, bút tôi ngay thẳng cán cân? |

T.X.A.
12:12-12:47, 01-05-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2885181571755775/
.
Ảnh: Đà Nẵng 1965 – Google search
.

.

Bài 9

HỌ CHỈ VÌ QUYỀN LỰC CHĂNG?
Trần Xuân An

còn độc nhà Đinh, dẹp tan mười một sứ |
chúa Trịnh đánh Mạc và Đàng Trong |
cũng như Tây Sơn nổi dậy, chỉ vì quyền lực |
cũng vì quyền lực thôi, sử có Gia Long |

nhiều lắm thì họ nghĩ thêm từ nhất thống |
dẹp đi mối âu lo nội chiến tranh hùng |
cũng do âu lo Trung Hoa chực chờ thôn tính |
chẳng chiêu bài gì, danh nghĩa vẫn sáng trưng |

Bác Hồ góp công đuổi Nhật, đánh bại Pháp |
Lê Duẩn thắng Mỹ, chặn Tàu Đỏ, diệt Đỏ Kh’Mer |
chỉ công thắng Pháp, tội rước Quốc kì Chủ nghĩa *|
còn lại là nhờ cơ may và dẹp giặc phát sinh kia |

giặc phát sinh của Tây Sơn là Xiêm, Tàu Mãn |
chiến công, có lẽ chẳng đáng ghi công? |
xương máu trùng trùng, chất ngất |
rồi sông Bến Ván như Bến Hải, đau lòng *|

do Quốc kì Chủ nghĩa nên nội chiến trong ngoại chiến |
do đánh Pháp thôi mà rước Chiến tranh Lạnh về nước mình |
đội mũ sao Chủ nghĩa, triệu người liệt sĩ *|
triệu Quốc gia, Cộng hoà chống sao Chủ nghĩa, hi sinh |

bao nhiêu người yêu nước khác chính kiến bị giết? |
bao nhiêu dân lành, chạy tan tác, chết oan? |
bao cuộc cải tạo, đổi tiền, chà đi xát lại? |
công đánh Pháp-thời-Pháp-đánh-thuê-cho-Mỹ đủ bù chăng? *|

rốt cục chẳng lẽ không có công nào cả? |
bởi cũng cầm súng Nga và súng-Tàu-được-uỷ-nhiệm, đánh thuê |
đánh thuê giương cao Quốc kì Chủ nghĩa |
đại tội cân bằng đại công, lương tâm thầm thĩ có nghe? |

những anh hùng, liệt sĩ, bà mẹ hi sinh chồng con cho Chủ nghĩa |
hương hồn thì đau, còn sống thì buồn? |
bao người cũng đồng bào phía đối phương cũng thế |
xin kính dâng thơ tự vấn và chín đoá bình sọ toả trầm hương |

viết để hiểu nhau và hiểu để nhìn nhau thương mến |
vàng thôi thù hận đỏ, đỏ thôi hận thù vàng |
bao đứa trẻ tâm tư trong sáng |
trái tim đồng bào không loạn thị sử, văn. |

T.X.A.
trưa 02-05-2021
……………….

(*) Quốc kì Chủ nghĩa (chữ “chủ” viết hoa): Quốc kì nền đỏ có ngôi sao vàng khối, biểu trưng cho chủ nghĩa Mác – Lê (gọi là “sao Chủ nghĩa”), đi đôi với cờ đỏ búa liềm vàng khối (biểu trưng cho công nông). Đó là phiên bản quốc kì Liên Xô. Xem chú thích ở bài “Lá cờ hừng đông trên biển” của tác giả. ~ Sông Bến Ván, tên được dịch ra từ Hán – Việt là Bản Tân, cực nam tỉnh Quảng Nam hiện nay (thuộc huyện Núi Thành), gần giáp tỉnh Quảng Ngãi, là ranh giới lãnh thổ giữa cương vực Nguyễn Huệ với cương vực Nguyễn Nhạc, tương tự như sông Bến Hải ở Quảng Trị. ~ Trong giai đoạn 1945-1954, quân viễn chinh Pháp tại Việt Nam được Mỹ cố vấn, cung cấp vũ khí, quân trang, quân dụng và tiền bạc đến mức 80% tổng chiến phí (tướng Navarre nhận định là “Pháp đánh thuê cho Mỹ”) để quân Pháp chống đánh Cộng sản Việt Nam (Cộng sản Việt Nam do Liên Xô và nước được uỷ nhiệm chính là Trung Quốc cố vấn, huấn luyện, cung cấp vũ khí, khí tài, quân trang, tiền bạc, có lẽ đến mức 100% chiến phí, và cả đất hậu phương ở Nam Trung Quốc). Sau 1955, Mỹ buộc quân Pháp phải rời khỏi Miền Nam Việt Nam (dĩ nhiên Pháp phải rút khỏi Miền Bắc Việt Nam theo Hiệp định Geneve 1954).
.
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2885885155018750/
.

Bài 10

ĐỀU TAY KHÔNG CHÂN ĐẤT,
XIN HAI VIỆT NAM MÌNH TỰ VẤN
Trần Xuân An

đỏ hay vàng |
cũng đều tay không chân đất |
thương dân tộc mình thế đó, Việt Nam |

Nga lợi dụng Tàu, Mỹ lợi dụng Pháp |
Bến Hải chia hai, hai đường chịu nhục |
xin súng đạn hai Khối, chống hai Khối xâm lăng |

chống Nhật, Pháp, Nga, Trung, Mỹ |
Kh’Mer Đỏ, và Vatican, Đỏ vô thần |
để bình sọ nở chín đoá đỏ vàng lam *|

máu xương ngập tràn chất ngất |
nhìn Trung Đài, đông tây Đức, Triều Hàn |
đôi mắt lương tâm không khoác lác |

hai Miền đều tay không chân đất |
đừng hãnh tiến, đừng uất trầm |
hai Việt Nam là một, hãy bình tâm. |

T.X.A.
trưa 04-05-2021
…………….

(*) Cộng sản Việt Nam, 05 đoá đỏ: chống Nhật, chống Pháp, chống Mỹ, chống Trung Quốc, chống Kh’Mer Đỏ. Quốc gia, Cộng hoà Việt Nam, 02 đoá vàng và 02 đoá lam: chống Liên Xô, chống Trung Cộng, chống Vatican, chống chủ nghĩa vô thần cộng sản.
Tổng cộng: 09 đoá.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2887275964879669/
.

Bài 11

THƯƠNG HAI ANH LÍNH ĐỎ, LÍNH VÀNG
Trần Xuân An

nhìn thẳng vào sự thật
xưa anh lính Vàng cắn răng kìm nước mắt
bóp chặt nòng súng Mỹ tanh mùi thịt da
từ thời Quốc gia đến Cộng hoà

dựa vào Pháp – Pháp đánh thuê cho Mỹ
thật ra đi với Mỹ
đưa Tổ quốc hội nhập vào Thế giới Tự do
độc lập, nhân quyền, ấm no

nhìn thẳng vào sự thật
xưa anh lính Đỏ khóc thầm mà hào hùng hát
chân bấu dép lốp Tàu, đạp xích tăng Nga
dính máu xương Việt Bắc, Bến Hải tràn qua

phất cờ Liên Xô – quốc kì sao Chủ nghĩa
cùng Trung Quốc đội đầu lãnh tụ Nga – nô lệ
đưa Tổ quốc hội nhập vào Thế giới Đại đồng
độc lập đỏ, công nông

nay nhìn anh lính Vàng, anh lính Đỏ bảo:
tôi đánh Pháp, Mỹ, hận anh tôi đã báo
nay nhìn anh lính Đỏ, anh lính Vàng đáp lời:
tôi chống cộng Tàu, Nga, hận anh đã vơi

mặc loa đài, truyền hình, sách vở
ra rả nói, hát hò, viết lách dối gian, thớ lợ
hai cựu binh Đỏ, Vàng trắng tóc, bạc đầu
cùng rưng rưng nước mắt, ngó đâu đâu.

T.X.A.
08:12-10:03, 05-05-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2887894874817778/

Ảnh: Google search – Chỉ có tính chất minh hoạ:

Bài 12

GƯƠNG MẶT TÂM TƯ TÔI
Trần Xuân An

tôi soi gương, thấy bức tranh tôi vẽ
bình sọ máu, chín đoá bốn sáu năm *
tươi hai vàng, hai lam, năm đỏ thắm
Chiến tranh Lạnh nguyên Chiến tranh Việt Nam

đâu chỉ vậy, mới là mặt hoà giải
năm mươi năm đời tôi cầm bút kia!
mặt tình yêu, siêu hình, hiện thực, sử…
bốn chín cuốn, soi vào đó, tôi kìa!

ba lăm tuổi Điểm nóng Chiến tranh Lạnh *
cuộc chiến dài, hậu chiến ba mươi năm
và còn nữa. Đó là thời tôi sống
viết nhiều mặt khối thạch anh cõi phàm

tâm tư tôi đâu chỉ bình xương sọ
đỏ vàng lam chín đoá của chiến tranh
như thạch anh cõi phàm nhiều cạnh khía
bốn chín cuốn, còn soi mặt, chưa thành

nếu trăm tuổi, dưới huyệt là xương trắng
(suốt một đời không chức tước huân chương)
bốn mươi chín đầu sách, còn viết nữa
tôi nhìn vào tủ sách tôi soi gương.

T.X.A.
07:01-08:00, 06-05-2021
…………….

(*) Chiến tranh Lạnh là Chiến tranh Việt Nam 1945-1954-1975-1989/1991. Việt Nam là Điểm nóng Chiến tranh Lạnh. 1991, tôi 35 tuổi. Hậu chiến, tính từ 1991 đến nay…

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2888594214747844/

.


Ảnh thạch anh (Google search)

Bài 13

KHỐI ĐỎ
CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
Trần Xuân An

thắng Điện Biên, hiển nhiên là Khối Đỏ
Pháp thực dân đã thành quân đánh thuê
Khối phi Đỏ đuổi Pháp về, cũng thắng
thắng một nửa, công bằng ở Genève?

Việt bên Đỏ, nhân danh cờ Đỏ kí
chữ kí Pháp nhận đánh thuê bại rồi
Điện Biên Phủ cũng bổ hai thế giới
Việt cờ Vàng khóc Đất nước chia đôi

dựa vào Mỹ (Pháp đánh thuê thảm hại)
vua Nhà Nguyễn còn nửa nước, chạy quàng
Điện Biên Phủ đỏ hoa Chiến tranh Lạnh
chống Giáo triều, Quốc gia đảo-chính-vàng!

phát xít Đức đánh gục cả nước Pháp
Mỹ xua Nhật, biến Pháp thành đánh thuê
Điện Biên Phủ thắng Pháp, nhờ bên Đỏ
Pháp phi nghĩa, bị siết bởi bốn bề!

lá cờ Đỏ là lồng ngực tim xé *
cho Tổ quốc và cho cả Loài người
da nhuộm máu, còn một ngôi sao sáng:
Sao-Chủ-nghĩa của Khối Đỏ trên Đời

Điện Biên Phủ, đoá hoa đỏ đẹp nhất
Hồ Chí Minh, đỏ từ tuổi ba mươi
đỏ Sài Gòn, đỏ Chiến tranh Biên giới
Khối Đỏ tan, Chiến tranh Lạnh dứt rồi

nửa dân tộc, Miền Nam Vàng chiến bại
nhưng tan rồi Khối Đỏ, ba mươi năm
kinh tế vàng nơi nơi, thực tiễn thắng
Điện Biên Phủ đỏ trong sử Việt Nam.

T.X.A.
trước 20:45, 06-05-2021
……………..

(*) Tố Hữu, “Việt Nam, máu và hoa” (1973): “Ta sẵn sàng xé trái tim ta / Cho Tổ quốc, và cho Tất cả / Lá cờ này là máu là da / Của ta, của con người, vô giá”. Khổ thơ gồm cả bốn câu này thể hiện tư tưởng chính thống, nhất quán: Tổ quốc và Quốc tế. Quốc tế được biểu đạt bằng từ “Tất cả” viết hoa, từ “con người” nói chung (khái quát). Đó chính tư tưởng đã thành khẩu hiệu: Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội (“Chủ nghĩa xã hội là Tổ quốc”). Đặc biệt, câu “lá cờ này là máu, là da”, thể hiện ý tưởng: Ngoài nền cờ màu máu (màu chiến đấu), là màu vàng tươi của ngôi sao được diễn đạt bằng thơ là màu da vàng (chủ nghĩa xã hội Châu Á chăng?).
Và, trong bài thơ trên của Tố Hữu còn có câu thể hiện rõ: “Của chung nhân loại chiến công này”. Hiểu cho đúng là nửa nhân loại thuộc Khối Đỏ.

Bị chú ngoài lề:
TÌM HIỂU THÊM VỀ QUỐC KÌ NỀN ĐỎ SAO VÀNG
Đọc bài thơ “Huế tháng Tám” của Tố Hữu (ông sáng tác vào năm 1945), người đọc thấy lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở Huế vào thời điểm đó, thời điểm “ngập Huế đỏ cờ sao”:

“Gió gió ơi! hãy làm giông làm tố
Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi
Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi!
Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác
Ôi thiên đường! Tai miên man lắng nhạc
Từ muôn phương theo gót nện rầm rầm
Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn năm!”.

(1945. Nguồn: Tố Hữu, “Từ ấy”, NXB Văn học, 1959)

Và cũng để tìm hiểu quốc kì, chúng ta lưu ý: “cờ đỏ máu thơm tươi / Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi!” và hai từ “thiên đường”, “muôn phương”, để từ đó, có thể thấy rõ: nền cờ đỏ màu máu (màu chiến đấu), sao vàng với thiên đường quốc tế (chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản – thiên đường trên mặt đất, trên thế giới địa cầu). Ngay từ thời còn trẻ (1945) cho đến về sau, nội hàm ý nghĩa của biểu trưng ở quốc kì đã được Tố Hữu thể hiện nhất quán theo tư tưởng chính thống như thế.

T.X.A.
09-05-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2889642904642975/

Xem thêm: Tìm hiểu quốc kì qua quốc ca:
https://txawriter.wordpress.com/2021/05/09/tim-hieu-them-ve-quoc-ki-qua-quoc-ca/


.

Bị chú ngoài lề:
TÌM HIỂU THÊM VỀ QUỐC KÌ
QUA QUỐC CA VÀ CÁC BẢN HIẾN PHÁP

I. Cờ tiền Việt Minh đến cờ Việt Minh rồi thành Quốc kì:
Không rõ ai là tác giả quốc kì (quốc kỳ). Có ý kiến viết trên sách báo bởi những người đã là nhân vật lịch sử danh tiếng: Trần Phú mang về từ Liên Xô (khoảng 1930…) hoặc Bác Hồ sáng tạo ra (không rõ năm, nhưng sử dụng từ cuối năm 1940).
“Theo Võ Nguyên Giáp, hiệu kỳ này lần đầu do Hồ Chí Minh sử dụng tại buổi mở lớp “Con đường giải phóng” huấn luyện cán bộ chuẩn bị thành lập mặt trận đại đoàn kết dân tộc vào cuối năm 1940” (trích Từ điển mở Wi-ki).
Không thể có chuyện một nhân vật không có thẩm quyền tại địa phương tự ý vẽ ra rồi tự giương lên làm hiệu kì được.

II. Về ý nghĩa của biểu trưng quốc kì:
Đến nay, có nhiều văn bản đáng tin cậy để xác định ý nghĩa:
~ Theo quốc ca (bài “Tiến quân ca”): nền cờ đỏ là màu máu chiến đấu: “Cờ in máu chiến thắng, mang hồn nước” (lời 1), và ngôi sao vàng năm cánh là học thuyết Mác-Lê: ”… Sao vàng phấp phới / Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than *a / Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới / Đứng đều lên gông xích ta đập tan” (lời 2). Rõ ràng như ban ngày, “XÂY ĐỜI MỚI” chính là xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lê (sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử từ 1930 đến sau này). 
Nhà thơ Vũ Cao cũng hiểu như vậy: "Anh đi bộ đội, sao trên mũ / Mãi mãi là sao sáng dẫn đường"...

~ Theo thơ Tố Hữu: nền cờ đỏ cũng chính là màu máu chiến đấu, ngôi sao vàng năm cánh cũng là biểu trưng chân lí (chủ nghĩa Mác-Lê, như ngôi sao vàng dẫn đường đưa lối mà Văn Cao đã viết), còn được hiểu với cách diễn đạt khác đi chút ít, rằng ngôi sao vàng năm cánh cũng chính là Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, “Chủ nghĩa xã hội là Tổ quốc”. Vui lòng xem dẫn chứng ở các ghi chú trước.
Tuy nhiên, ở tất cả các bản Hiến pháp đều không có dòng nào giải mã biểu trưng nền đỏ, ngôi sao vàng năm cánh cả *b.

Do đó, lời quốc ca là có giá trị xác định nhất. Tuy vậy, Tố Hữu là nhà thơ cộng sản, kiêm Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương, như là phát ngôn viên chính thức về tư tưởng Đảng, trên đài báo, sách giáo khoa, nên thơ ông cũng có giá trị xác định rất cao, chỉ ở mức độ sau quốc ca một bậc mà thôi.

Tôi không viết thành bài, mà chỉ ghi chú rải rác, bởi vì quốc kì là vấn đề lớn, nghiêm trọng. Dẫu sao, lớn và nghiêm trọng đến mức nào, quốc kì cũng thuộc đối tượng tìm hiểu, nghiên cứu khoa học. Nếu có sai lạc, xin vui lòng chỉ giáo.

T.X.A.
09-05-2021
…………

(*a) Trong quốc ca, có một bộ phận vị ngữ khó hiểu, do một từ: “dắt giống nòi quê hương qua NƠI lầm than”. Có phải là “… qua NỖI lầm than” không? Vui lòng chỉ giáo. Xin cảm ơn.
(*b)
 
Tư liệu:
1~ Quốc kỳ trong Hiến pháp Việt Nam dân chủ cộng hoà 1946:
Điều thứ 3
Cờ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh.

2~ Quốc kỳ trong Hiến pháp Việt Nam dân chủ cộng hoà 1959:
Điều 109
Quốc kỳ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.
(Đặc biệt, 1955, có sự thay đổi về hình dạng ngôi sao vàng, từ ngôi sao vàng năm cánh được làm bằng đường cong thành ngôi sao vàng năm cánh được làm bằng đường thẳng, và giữ nguyên hình dạng ấy từ 1955 đến nay. Sự thay đổi này không ghi vào Hiến pháp).

3~ Quốc kỳ trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1982:
Điều 142
Quốc kỳ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.
(Đặc biệt, có dự định thay đổi quốc ca:
Điều 144
Quốc ca nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Quốc hội thông qua.
Nhưng rồi cũng vẫn giữ bài “Tiến quân ca” của Văn Cao).

4~ Quốc kỳ trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992:
Điều 141
Quốc kỳ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

5~ Quốc kỳ trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013:
Điều 13.
1. Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2890929464514319/


Cái chính là cờ đỏ sao vàng đi đôi với cờ đỏ búa liềm vàng là quốc kì Liên Xô, khiến người yêu nước Quốc gia trước và sau 1945 không thể đi theo Bác Hồ được: Họ không thể đổ máu cho Liên Xô, họ đi với vua Nhà Nguyễn Bảo Đại và Mỹ.

Xem thêm:
KHỐI ĐỎ
CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
Trần Xuân An

https://txawriter.wordpress.com/2021/05/08/khoi-do-chien-thang-dien-bien-phu/

.

Bài 14

TRẢ THÙ GIAI CẤP
Trần Xuân An

bàn tay than chai, đồng bỏng
cây lúa dầm chân bùn lầm
nước mắt nghìn năm còn nóng
“Kẻ sĩ” một thời ngâm câm *

cho dù thiên tài gác tía
thiên tài đèn đom đóm soi
mực mài mồ hôi chữ thật
đều cá gỗ, trứng nắng thôi

đốt sách, trốc gốc, chôn sống
bài “Kẻ sĩ” có ngờ đâu!
dìm hàn nho Nguyễn Công Trứ
nước vẫn kẻ sĩ đứng đầu!

dấu hỏi chạm đau kẻ thợ:
bão lửa – lợi dụng căm thù?
kẻ sĩ giải phóng kẻ ruộng
công cụ vượt xa rồi ư?

súng đạn cũng là công cụ
nước ta thua Pháp ngoại xâm
giải phóng mồ hôi, cơ bắp
công cụ phải vượt nghìn năm!

độc đảng, như quý tộc mới
trả thù cho búa cho liềm
búa liềm nghìn xưa ta khác
có kẻ sĩ giỏi, quan liêm

thiên tài ở mọi giai cấp
gặp nhau trong giới tinh hoa
bây giờ hát vang “Kẻ sĩ”
chớ khinh lầm than, lột da

cải cách, đổi tiền, cải tạo
nhớ chưa và đã nhớ chưa
một cuộc trả thù giai cấp
đại gia, kẻ sĩ khác xưa

cách mạng đảo trời lộn đất
thấm bài đạo đức làm người
hợm mình, xa hoa là loạn
bóc lột, lại mưa máu rơi!

chân lí, lẽ đời muôn thuở
thành bài “Kẻ sĩ” đã lâu
cũng bị trả thù giai cấp
bia mộ trùm kín cỏ lau.

T.X.A.
08:23-10:01, 13-05-2021
…………….

(*) “Kẻ sĩ”, thơ Nguyễn Công Trứ (1778-1858). Trước Đổi mới, văn học sử Việt Nam dân chủ cộng hoà và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không hề đề cập đến Nguyễn Công Trứ, bởi lẽ, hồi đó, tư tưởng chính thống, tư tưởng chỉ đạo đề cao công nông, còn trí thức chỉ được xếp đứng sau hai giai cấp ấy, và phải là trí thức xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Công Trứ là một nhà thơ vốn được văn học sử Việt Nam cộng hoà trọng thị. 

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2893640177576581/

Tranh vẽ chân dung Nguyễn Công Trứ (Google search – vnexpress)


.

Bài 15

CÁI DỤC CÓ TÍNH NGƯỜI
Trần Xuân An

bản năng gốc là cái-dục-truyền-giống
để loài người tiếp nối nở sinh
chút khoái lạc, nghìn khổ đau, cực nhọc
đẹp đời bằng gia đình

cái dục ấy thành yêu đương, thăng hoa nhất
cái dục nào, cõi đời đổ nước mắt, mồ hôi
đấu tranh sinh tồn, đấu tranh giai cấp
cái-dục-tư-hữu thăng hoa, phồn vinh đời

nếu thiến tinh hoàn đi, cắt đi âm vật
tuyệt chủng loài người
nếu thiến hay cắt đi dạ dày hầu bao tư hữu
công hữu thì trì trệ, cầm chừng thôi

dâm đãng vô độ, tham lam vô độ
cõi đời là địa ngục, hết thăng hoa
yêu đương lành mạnh, tư hữu lành mạnh
yêu đương vị tha, kinh doanh vị tha?

nhờ bao ca khúc, bài thơ trong sáng quá
hãy tin đi, thế gian có cao cả yêu đương
hãy tin đi có thiện tâm trong hàng hoá
nhờ đẹp luật, lành chùa và tốt nhà trường…

bạn có thể cười bài thơ này ảo tưởng
nhưng loài người từ thuở hết bán khai
có thật trên đời yêu đương cao cả
tư hữu văn minh, đấu tranh văn minh
        mấy nghìn năm rồi…

tư hữu mấy nghìn năm rồi, vững chắc
vượt quãng bùn trộn máu, văn minh thăng hoa
công hữu mới bảy mươi năm, đổ vực
hoảng hốt, trấn tĩnh, phân vân rất là…

Đất nước mình phân vân về công hữu
nhưng độc đảng, không công bằng,
        không âm dương, thiếu nhân quyền
tôi cũng đỏ, nếu kiên định chủ nghĩa xã hội
sao đành bóp nghẹt tự do trên đường,
        đích đến quá lung liêng!

tôi có tình yêu với sách báo
hãy tin đi, tình yêu ấy sáng trong
bao giờ tự xuất bản là quyền hợp pháp? *
dân số đầu sách không đòi ăn,
        thiện tâm cần những tấm lòng.

T.X.A.
trước 09:39, 15-05-2021

………..

(*) Xem thêm: NÓI CHO RÕ VỀ TỰ XUẤT BẢN (Trần Xuân An):
https://txawriter.wordpress.com/2021/05/17/noi-cho-ro-ve-tu-xuat-ban/

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2895008004106465/

CHÚ THÍCH BÀI 15: NÓI CHO RÕ VỀ TỰ XUẤT BẢN

Trần Xuân An

tác phẩm rách toạc ra lời nói toạc
tác giả đau, người kiểm duyệt cũng đau?
người cầm bút văn chương học thuật
tự do dân chủ
là có quyền viết
không vi phạm thuần phong mĩ tục
không bị kiểm duyệt
(kiểm duyệt bị đánh tráo bằng từ biên tập)
có quyền đăng báo, quyền làm báo để đăng
có quyền xuất bản thành sách
có quyền phát hành
còn nhà cầm quyền thì cứ cầm quyền
chỉ cấp giấy chứng nhận hợp pháp
giữ quyền bằng súng đạn công an quân đội
phím bút sách báo chẳng hề hấn gì
vì đằng sau phím bút chỉ là cây sậy suy tư!
hai câu thơ:
“dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ
mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền” *

ngỡ nói bốc, vì che giấu sự thật
cây bút ấy là tên lửa Liên Xô, có thật
vần thơ ấy là bộc phá Liên Xô, có thật
có thật bên cạnh là cố vấn Trung Quốc
và trùng trùng bộ đội phía sau, có thật
chứ cán bút và vần thơ không thôi
chẳng làm được gì!
nữa là tác phẩm tôi hiền lành, hoà giải
có lợi cho hoà hợp đồng bào
nước ta cứ tự cao chính thể ưu việt
người cầm bút chẳng có chút tự do nào!
bức tranh hoà giải
không lẽ cắt đi bình sọ xương máu
cắt đi bốn đoá vàng, lam
chỉ còn năm bông đỏ thôi sao?
tác phẩm rách toạc ra lời nói toạc
tác giả đau, người kiểm duyệt cũng đau?

T.X.A.
17-05-2021

...............

(*) “Là thi sĩ” (1942), thơ Sóng Hồng (bút danh của Tổng bí thư Trường Chinh). Trong bài thơ này còn có hai câu kết: “Cùng công nông vun xới cuộc tương lai / Ðã chớm nở từ Liên-xô hùng vĩ”.

Bài 16

THƠ VỀ PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT
Trần Xuân An

quan lại, công chức làm công ăn lương |
cũng là phương thức của thợ thuyền công nghiệp |
nên nền sản xuất hành chính quan liêu bao cấp |
cho dù công hữu nhà máy,
        và dĩ nhiên công hữu chính quyền |

cuộc cách mạng long trời lở đất |
rốt cục cũng vì phương thức sản xuất ấy thôi |
chân lí thì giản đơn, trần trụi |
hành chính quan liêu bao cấp! Rã rời |

thi sĩ không nỡ mộng mơ hoa bướm |
nước mắt rơi trên sách triết học, kinh tế – chính trị,
        ngẩng nhìn |
công nhân, nông dân cũng sẽ là quan lại, công chức
        trong sản xuất |
thấy Đảng cửa quyền, gạt kẻ sĩ thiếu niềm tin! |

cạnh tranh, đối lập là biện chứng |
không còn trì trệ, phải động não,
        chất lượng, năng suất là thước đo |
thực tiễn, thực tiễn và thực tiễn |
nhưng công hữu toàn trị
        là con đường khai phá mới, mơ hồ |

phương thức sản xuất, phương thức sản xuất |
biết mấy máu xương, vô vàn máu xương |
rồi hoá ra hành chính quan liêu bao cấp |
cuộc cách mạng phiêu lưu,
        ngẫm nghĩ mà thương!

T.X.A.
trước 09:40, 16-05-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2895703604036905/


Bài 17

CẢM GIÁC BƠ VƠ
Trần Xuân An

cờ Chiến thắng của Liên Xô: quốc kì Liên Xô
búa liềm và sao, trên ảnh tượng Bác Hồ
hiểu anh hùng Hồ Chí Minh thuộc về Khối Đỏ
Người chưa vui, hồn Nước, hồn Người bơ vơ!

T.X.A.
19-05-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2897947610479171/


Bài 18

NỘI CHIẾN,
NGẪM XƯA THƯƠNG NAY
Trần Xuân An

thời ta khác
thuở Mạc bắc Lê nam *
thuở sông Gianh
chia hai Đàng hai chúa
thành Cao Bằng
không san bằng xẻng búa
như chứng tích
tiếng khóc ”Chinh phụ ngâm”
Đặng Trần Côn
viết phải trốn dưới hầm!
nội chiến rước ngoại xâm
giặc cháy lửa
đất “Hoàng Lê”
Tây Sơn vang vó ngựa *
thơ Nguyễn Du
còn mãi lệ chảy thầm

nội chiến xưa
văn chương mình nghẹn câm
mực mài máu đồng bào
đâu phải nước
nếu nước lã
văn hào hùng, giục bước
nội chiến nào
cũng xé giấy trắng tâm?
vẫn hai bờ
dù nội ngoại phía nam
mặt nước không thể nghiêng
không nghiêng được
Bến Hải
không nghiêng một miền Đất nước
bốn mươi chín đầu sách tôi
người soi không?

trái tim tôi
có lẽ hơi dại ngông
Nguyễn Dữ gửi truyền kì
lưu bao chuyện
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Dương Văn An
giấu lòng
(hai quan Mạc
chẳng viết gì nội chiến!)
nhưng nước mắt “Chinh phụ ngâm”
chảy ròng
đau nội chiến
thơ Nguyễn Du kín miệng
Ngô văn phái
sử văn viết nối dòng
dù “Hoàng Lê”
bút đâu đành bẻ cong

cuộc cách mạng toàn cầu
đã liên thông
trách chi 
thuở năm châu xa cách lắm
viết nội chiến
sợ tru di, thớt trảm
“Chinh phụ ngâm”
khóc đã là dũng cảm
cũng dũng cảm “Hoàng Lê”
chốn ruộng đồng
thơ Nguyễn Du
có câu đau đứng tròng
Chiến tranh Lạnh
Nội chiến Đỏ Vàng
, cấm
nhờ tin học, thơ thoát còng
trăm phương

đau đáu sông Bến Hải 
cầu Hiền Lương
— Quảng Trị dày bom mìn
trong rau lúa
hoà giải này
gửi mấy trời xa nữa
Trái Đất lưu Bến Hải
dù ngược đường
hồn Việt Nam
còn đạn tên, máu ứa
Nam Bắc triều
Cồn Tiên gươm Mạc buông
còn Trịnh Nguyễn
Tây Sơn quét hai chúa
Chiến tranh Lạnh
nghĩa trang Đỏ Vàng xương

nếu kể cả
nội chiến Mười hai sứ
(có Hoa kiều
cũng mưu bá đồ vương)
nội chiến lớn, năm lần
trong quốc sử
máu ruột thịt
sợ thấm vào văn chương!
nhưng Nội chiến Đỏ Vàng
ngực máu ứ
Chiến tranh Lạnh
hậu chiến dài đau thương
tác phẩm nào
như chứng tích lưu giữ
nội chiến thời Bến Hải
cầu Hiền Lương?

T.X.A.
09:21-11:20, 22-05-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2900010706939528/

Bài 18 (trình bày bình thường)

NỘI CHIẾN,
NGẪM XƯA THƯƠNG NAY
Trần Xuân An

thời ta khác thuở Mạc bắc Lê nam *
thuở sông Gianh, chia hai Đàng hai chúa
thành Cao Bằng, không san bằng xẻng búa
như chứng tích, tiếng khóc “Chinh phụ ngâm”
Đặng Trần Côn viết phải trốn dưới hầm!
nội chiến rước ngoại xâm, giặc cháy lửa
đất “Hoàng Lê”, Tây Sơn vang vó ngựa *
thơ Nguyễn Du còn mãi lệ chảy thầm

nội chiến xưa, văn chương mình nghẹn câm
mực mài máu đồng bào, đâu phải nước
nếu nước lã, văn hào hùng, giục bước
nội chiến nào cũng xé giấy trắng tâm?
vẫn hai bờ, dù nội ngoại phía nam
mặt nước không thể nghiêng, không nghiêng được
Bến Hải, không nghiêng một miền Đất nước
bốn mươi chín đầu sách tôi, người soi không?

trái tim tôi có lẽ hơi dại ngông
Nguyễn Dữ gửi truyền kì, lưu bao chuyện
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Dương Văn An giấu lòng
(hai quan Mạc chẳng viết gì nội chiến!)
nhưng nước mắt “Chinh phụ ngâm” chảy ròng
đau nội chiến, thơ Nguyễn Du kín miệng
Ngô văn phái, sử văn viết nối dòng
dù “Hoàng Lê”, bút đâu đành bẻ cong

cuộc cách mạng toàn cầu đã liên thông
trách chi thuở năm châu xa cách lắm
viết nội chiến, sợ tru di, thớt trảm
“Chinh phụ ngâm” khóc đã là dũng cảm
cũng dũng cảm “Hoàng Lê”, chốn ruộng đồng
thơ Nguyễn Du có câu đau đứng tròng
Chiến tranh Lạnh – Nội chiến Đỏ Vàng, cấm
nhờ tin học, thơ thoát còng, trăm phương

đau đáu sông Bến Hải, cầu Hiền Lương
— Quảng Trị dày bom mìn, trong rau lúa
hoà giải này, gửi mấy trời xa nữa
Trái Đất lưu Bến Hải, dù ngược đường
hồn Việt Nam còn đạn tên, máu ứa
Nam Bắc triều, Cồn Tiên gươm Mạc buông
còn Trịnh Nguyễn, Tây Sơn quét hai chúa
Chiến tranh Lạnh, nghĩa trang Đỏ Vàng xương

nếu kể cả nội chiến Mười hai sứ
(có Hoa kiều cũng mưu bá đồ vương)
nội chiến lớn, năm lần trong quốc sử
máu ruột thịt sợ thấm vào văn chương!
nhưng Nội chiến Đỏ Vàng, ngực máu ứ
Chiến tranh Lạnh, hậu chiến dài đau thương
tác phẩm nào như chứng tích lưu giữ
nội chiến thời Bến Hải, cầu Hiền Lương?

T.X.A.
09:21-11:20, 22-05-2021
………….

(*) ~ Thời “Nam – Bắc triều” (1533-1593). ~ “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2900010706939528/

Bài 19

MƯỠU HẬU BÀI “NỘI CHIẾN…”
Trần Xuân An

viết nội chiến, lòng sao khỏi đau
lòng đau thì đầu trên thớt
“Chinh phụ ngâm”
giữa thời Trịnh – Nguyễn, khóc
thương hoàng phi vua Lê,
“Hoàng Lê” khóc *
“Chiến Tụng Tây hồ phú”,
Phạm Thái đau
quốc kêu đèo Ngang,
Huyện Thanh Quan lòng nát
kẻ sĩ Bắc Hà cứ nghĩ nước mất
hận vu Đàng Trong nguỵ tặc *
– Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh –
chưa gốc bền rễ sâu?
Nguyễn Du cũng rơi nước mắt
đôi bờ sông Gianh trắng lau
người xưa viết
cho hậu sinh thôi tàn độc
sao thời hậu chiến này,
tàn độc quá dài lâu?
tôi thương lính Đỏ, lính Vàng,
kể chi chức tước
và người dân —
bình sọ máu sẫm màu.

T.X.A.
trước 10:40, 24-05-2021

………………..

(*) Trích chương 17 “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái (Ngô Thời Chí, Ngô Thời Du, Ngô Thời Thiến, làng Tả Thanh Oai, Hà Nội), về hoàng phi Nguyễn Thị Kim, vợ vua Lê Chiêu Thống:
“… Năm Giáp Tý (1804) (…)
Tháng giêng năm ấy, các bề tôi mở quan tài vua Lê Chiêu Thống thì thấy da thịt đã nát hết, chỉ có trái tim không nát, mà sắc máu hầu như vẫn còn đỏ tươi. Tính từ khi quàn đến bây giờ đã mười hai năm. Ai trông thấy cũng đều lấy làm lạ và than thở. Rồi đó, họ lại lượm di hài của thái hậu và con đầu của vua. Cả di hài của Viết Triệu và Văn Quyên cũng được đưa về theo.
Ngày 13 tháng 8 mùa thu năm ấy, di hài vua Lê đưa về đến cửa ải. Hoàng phi là Nguyễn Thị Kim nghe tin, liền từ Kinh Bắc lên cửa ải để đón linh cữu. Ngay từ hôm ấy, hoàng phi tuyệt thực, mỗi ngày chỉ uống một chén hồ, vật vã bên linh cữu mà khóc lóc. Ngày 23 tháng 8 di hài đưa về đến Thăng Long, các quan dựng rạp tế ở nhà Diên tự công. Hằng ngày hoàng phi chỉ nhấm vài đốt mía mà thôi.
Ngày 12 tháng 10, các quan thay hài cốt vua Lê sang một chiếc tiểu khác, thấy trái tim vẫn còn y nguyên.
Tế xong, hoàng phi đến trước hương án khóc lóc thảm thiết và nói với Diên tự công rằng:
– Ta nhẫn nhục vất vả đã mười lăm mười sáu năm trời nay, trong những ngày ấy không phải là không dám chết, chỉ vì thái hậu, vua ta, con ta vẫn ở bên Trung Quốc, âm tín không thông, còn mất không rõ, nên ta còn chờ đợi một chút. Nay thái hậu cùng vua ta đều mất, con ta cũng chết, linh cữu đã về đến nước nhà thế là việc của ta xong rồi, ta phải chết theo để hầu bên lăng tẩm mới phải.
Rồi đó, hoàng phi liền uống thuốc độc tự tử. Ai nghe tin ấy cũng đều thương xót. Sứ thần Trung Hoa bấy giờ đang ở đấy cũng than thở, ngợi khen mãi.
Ngày 13, các quan lại sắm quan quách khâm liệm cho hoàng phi, rồi ngày 28 cùng rước xuống thuyền đưa về trấn Thanh Hoa.
Ngày 24 tháng 11, các quan làm lễ an táng vua Lê, thái hậu, hoàng phi, con vua ở cạnh lăng vua Hiển-tông, trên núi Bàn Thạch (thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá). Hai quan tài của Nguyễn Viết Triệu, Nguyễn Văn Quyên cũng táng theo ở gần đó.
(…)
Sau khi hoàng phi đã chết theo vua Lê, người khắp cả nước ta và người Trung Quốc đều khen là bậc tiết nghĩa…”
. (Hết trích)

TRÍCH “Chiến ‘Tụng Tây hồ phú’” của Phạm Thái (1777-1813):
(…) “Quyên thét lâu thì luống để hờn lâu, bên cầu vồng nghe nhịp trống khua trăng, vì Nam tướng phải căm lòng Bắc sĩ;
Ếch kêu mãi lại càng thêm oán mãi, trên thành trì lắng ngọn còi huýt gió, bởi Tây triều mà ghét chí Đông phu”.
(…) “Cảnh vừa khi quân tướng những ta xưa, thú cỏ hoa thì ai cũng chiều chơi, nào ngờ tuyết lạnh sương tan, lòng dạ ấy phải biết cho người với;
Người đến buổi quan hà về kẻ khác, thù non sông nghĩ mình chưa trả được, dẫu có trăng trong gió mát, mặt mũi nào mà vui với cảnh ru!”.
(…) “Gánh quân thân ai đã mỏi vai rồi, kẻ tráng sĩ làm thinh đi chẳng dứt;
Vạc quốc bảo khách còn dang cánh kéo, đứa nhâm nhân gắng sức lại mà hò”.
(…) “Giận vì thằng sao nỡ đặt “Tụng Hồ”, bênh nguỵ tặc bỏ ơn đời đế thế; *
Cho nên đây phải hoạ vần “Chiến tụng”, nguyện ngô quân đem lại nếp hoàng đồ”. (…). (Hết trích).

~~~ (Nguồn bài phú: thivien. net) ~~~
……………
(*) 1) Bản Nguyễn Văn Xung sưu tầm: “Giận vì thằng đặt “Tụng Tây hồ”, bênh nguỵ tặc bỏ quên đời thế đế;…”.

2) Bản Trần Trọng Dương sưu tầm: “Giận vì thằng sao nỡ đặt tụng “Tây Hồ”, bênh nguỵ tặc bỏ ơn đời đế thế;…”.

— ooo OoO ooo —

“Chinh phụ ngâm” là tác phẩm phản đối chiến tranh, được hoàn tất vào năm 1741, ở thời điểm giữa thời kì Trịnh – Nguyễn phân tranh (1558-1802, trận giao chiến đầu tiên, năm 1627, trận giao chiến cuối, năm 1774-1775). Đặng Trần Côn là kẻ sĩ Bắc Hà, nhưng ngâm khúc của ông là tiếng kêu đòi chúa Trịnh chấm dứt nội chiến – các trận chiến và không khí thường trực sẵn sàng nổ ra chiến trận. Mặt khác, có thể hiểu ông cũng không muốn chúa Nguyễn tấn công ra Đàng Ngoài. Thật ra, trong tám trận, kể cả trận cuối, có đến bảy trận chúa Trịnh tấn công vào Đàng Trong!

“Hoàng Lê nhất thống chí” mặc dù được viết với lập trường hoài Lê, nhưng vẫn khách quan đề cao Nguyễn Huệ và chấp nhận sự nhất thống hai Đàng dưới tân triều Nhà Nguyễn (Gia Long – Tự Đức). Đây là một tác phẩm thuộc loại văn sử bất phân, được viết nối bởi ba người trong gia tộc Ngô Thời làng Tả Thanh Oai, Hà Nội.

Thơ Nguyễn Du. Nguyễn Du là con trai của Nguyễn Nghiễm và em trai cùng cha khác mẹ của Nguyễn Khản. Cha và anh đều là đại thần đứng đầu phủ chúa Đàng Ngoài. Hơn nữa, chính Nguyễn Nghiễm lại cầm quân tấn công Đàng Trong trong trận cuối, 1774-1775, khiến chúa Nguyễn phải bôn tẩu vào Gia Định. Tuy vậy, Nguyễn Du vẫn được Nguyễn Gia Long trọng dụng. Tâm thế của Nguyễn Du thể hiện trong chừng mức nào đó ở thơ ông. Ông tận tuỵ phục vụ tân triều Nhà Nguyễn nhưng không phải không có ít nhiều cảm hoài Lê – Trịnh, mặc dù ý thức rõ cựu triều ấy là thực thể lịch sử một đi không trở lại địa vị lịch sử của nó.

T.X.A. ghi chú về ba tác phẩm trên (24-05-2021).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2901331636807435/
.

Bài 20

ĐỨC PHẬT THÍCH CA TRONG TÔI
Trần Xuân An

~ “Ta là Phật đã thành,
các ngươi là Phật sẽ thành” (Lời Đức Phật) ~

Đức Phật nhận mình Người Giác ngộ
giúp chúng sinh lo tự cứu thôi
ngai vàng chính trị, Ngài từ bỏ
lỗi quen sùng bái do loài người

phải đâu Phật giáo là quyền lực
buộc dân đội tượng – dân tôi đòi
Đức Phật – vị thầy về đạo đức
ngồi cạnh ta thiền quán nghiệp đời

mỗi tháng bốn chay, tròn tháng tịnh
gõ mõ tâm tôi thức sọ tôi
tiếng chuông thanh thoát, gia tiên nhắc *
kính Phật, ơn Đời, nhang giữa trời
.

.
~ gõ mõ tâm tôi thức sọ tôi ~ T.X.A. chú thích ảnh minh hoạ
.
lời người chính trị thường linh hoạt
có công thì kính, sao tin lời
lãnh tụ đương triều, thờ, khó luận
phản biện, mắt dân mới rộng vời

chủ quyền Tổ quốc, phải thuần Việt
kinh điển ngoại cường, tham khảo chơi
Nước Tổ chỉ Hùng vương là Tổ
tôn giáo chính trị — tà giáo rồi!

Đức Phật nếu ngồi ngai chính trị
ghi sử truyện Ngài, tối lẫn ngời
chỉ riêng tôn giáo là thờ kính
vị thầy đạo đức, xa lìa ngôi

đạo hữu quy y nhưng nhập thế
chính trị ngoài chùa, thuyền nước trôi
truyền đơn, hàm chức, mùi tanh chợ
đừng nhân danh Phật, thiền thảnh thơi!

ra trận, thiền sư vì vận nước
biết sai nẻo Phật, bút lưng voi
đạo hữu có quyền làm chính trị
nhưng dựa vào chùa, không phải nơi

chùa cần nhập thế, tàng thư viện
kinh Phật chất cao như núi đồi
văn sử cổ kim, huyết lệ mặn
đạo cũng thấu đời như biển khơi

bốn vạn tám nghìn, tâm khế lí
khế cơ phong kiến quá xa xôi
pháp môn Đức Phật thời dân chủ
ngồi bệt bên ta, Ngài mỉm cười.

T.X.A.
21:19-23:01, 24-05-2021
(13-04 âm lịch, Rằm Phật đản)

…………..

(*) Tu, đối với người thế tục như bản thân tôi, chỉ là ý thức và hành vi tự tu, tu tại gia, mặc dù không là cư sĩ. Trong bài thơ này, mới viết, ăn chay mỗi tháng bốn ngày là hành vi thực tế mấy chục năm qua, nhưng hình ảnh gõ mõ, điểm chuông chỉ là hình ảnh trong tâm thức (gõ mõ tâm thức, đánh thức cái sọ xương của mình như cái mõ gỗ; tiếng chuông là lời gia tiên nhắc nhở trong tâm).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2901686220105310/
.
Ảnh Đức Phật Thích Ca của Buddhist Art & ảnh mõ Google search



Bài 21

RẰM PHẬT ĐẢN NĂM NAY,
NHỚ VẦNG TRĂNG DUY NGÃ ĐỘC TÔN
Trần Xuân An

.

.
rằm Đản sinh, nguyệt thực, siêu trăng đỏ
ngón tay chỉ, cà phê đen, sen hồng
uống bóng tối, nhìn theo tay Ngài chỉ
sen gương trăng: Cái Ngã trăng sáng trong

lời của trăng, đứa trẻ sơ sinh nói
mới lọt lòng, Ngài đã thành đạo đâu
lời huyền thuyết, thấy trăng đen thơm ngát
chuyển trăng đỏ, Ngã vô ngã cao sâu

thành đạo rồi, Ngài khuyên nhìn trăng sáng
ngón tay chỉ của Ngài không phải trăng
trăng là Ngã, cái tôi không ai cả
tứ điệu đế, chân lí ánh Đạo vàng *

mọi cái tôi trên đời đều độc nhất
xấu hay tốt, tôi cũng quý trọng tôi
dẫu đều biết, tu sáng rồi dần tắt *
có rồi không, nhưng từng có một người

giữa thế tục, suốt một đời nghĩ ngợi
tách nguyệt thực, đắng ngát – cà phê đời
bông sen đỏ nở trên bùn đen tối
vàng gương sen soi tôi không vì tôi

Phật đản sinh, nói lời trăng ẩn dụ
đừng chấp ngã, đừng duy ngã độc tôn
trăng đen bùn, sen trăng đỏ, vàng đạo
tay Phật chỉ, đừng nhìn. Nhìn trăng tròn

và nhìn đất, một ngón tay khác chỉ
chân lí đất: tứ diệu đế trần gian
trăng hay đất cũng là chân lí ấy
hai tay Ngài không chỉ vào bản thân

lời Thành đạo chiếu soi lời Phật đản
lời sơ sinh dù chỉ truyền thuyết thôi
nhiều pháp thoại, sách báo, sùng bái lệch
trích thiếu lời Phật đản, hiểu lạc rồi *

nếu duy ngã độc tôn, thì chấp ngã
chìm đắm trong cái khổ vì cái tôi
ngã vô ngã, không ai là chân lí
tứ diệu đế, chân lí đất và trời.

T.X.A.
06:12-08:01, 28-05-2021
(17-04 Tân Sửu HB21)
……………

(*) ~ Lời Phật đản trọn vẹn gồm bốn câu, hoặc (1) hoặc (2) sau đây: (1) ”Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, nhất thiết thế gian, sinh lão bệnh tử”: Trên trời dưới trời, chỉ coi cái tôi là tôn quý nhất, thì dứt khoát thế gian phải chịu sinh lão bệnh tử. (2) ”Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, vô lượng sanh tử, ư kim tận hỉ!”: Trên trời dưới trời, chỉ xem cái tôi là tôn quý nhất, nên chịu vô số kiếp luân hồi, nay mới vô cùng vui vẻ. (Câu thứ hai này dẫn theo Thượng toạ Thích Minh Đạt). Do đó cần phải tu tập để đạt được vô ngã (không chấp ngã, bám víu vào cái tôi tham sân si), để diệt khổ, thoát khổ (theo tứ diệu đế). Tuy vậy, một số cao tăng đã nghiên cứu kinh điển gốc tiếng Pali, vẫn xác định rằng, hai câu đó là “Trên trời, dưới trời, chỉ có ta một mình tôn quý”, và xem đó chỉ do người đời sau viết thêm vào, trở thành truyền thuyết, huyền thoại hoá. Ở đây, tôi thấy cách hiểu gồm cả bốn câu bên trên phù hợp, nhất quán với tư tưởng Đức Phật Thích Ca hơn. ~ Tu, đối với người thế tục như bản thân tôi, chỉ là ý thức và hành vi tự tu, tu tại gia, mặc dù không là cư sĩ. Trong bài thơ trước bài này, mới viết, ăn chay mỗi tháng bốn ngày là hành vi thực tế mấy chục năm qua, nhưng hình ảnh gõ mõ, điểm chuông chỉ là hình ảnh trong tâm thức (gõ mõ tâm thức, đánh thức cái sọ xương của mình như cái mõ gỗ; tiếng chuông là lời gia tiên nhắc nhở trong tâm).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2904084743198791/
.
Ảnh của báo Khuyến Nông,
Xem như ẩn dụ của trăng huyết, siêu trăng trong đêm rằm Phật đản năm nay (Tân Sửu HB21):
.

Bài 22

XONG
Trần Xuân An

khép cửa bao lần, không khép được
hoá ra sách nổi bão trong phòng
“Tụng Tây hồ”“Chiến ‘Tụng’”? Hoà giải *
Bến Hải ngược sông Gianh, đã xong

Phạm Thái chửi Quang Trung “nguỵ tặc”
“nguỵ Tây Sơn”, sử Nguyễn nghìn dòng
“nguỵ thư”, Cao Bá Liên, lưu sử *
“nguỵ”“phản động” nay, mạng vạn còng

(bù đắp “Mùa hè… sông” Bến Hải *
mười tư đầu sách còn long đong
thấy thương “Sơ kính tân trang” cũ *
tình, uất Đàng Trong, bút áo sồng)

hai trận sóng thần Xanh, Đỏ quét
nối Gianh, Bến Hải, máu sôi sông
dựng đê, khoá chốt, đều toang, ngập
thuyền sách neo sân đình, cửa không

kẻ Bắc, người Nam, văn “Chiến ‘Tụng’”
”Tụng Tây hồ”, một bến chia dòng
nối tay đa dạng, cầu chân thật
phòng sách neo thuyền sợi chỉ hồng

lịch sử cứ trôi, cày xới sóng
“nguỵ Tây Sơn” nội lực nên công
“nguỵ” Cao và Phạm thơ hoài sáng *
Gia Long truyền chuộc oán Gia Long

hiểu rộng cho đời thêm thoáng đãng
thời nào mắt tối, rối bòng bong
thôi xây nhà đá, tự soi sửa
chỉ trích, cảm ơn, dù xé lòng

đã nắm chính quyền đừng độc bút
nhà văn có kẻ bút như chông
lập trường thử đổi cho hoà giải
hiểu Bến Hải, thêm chút sáng trong

rốt lại, “Tụng Tây”“Chiến ‘Tụng’” mới:
đỏ nền, liềm búa, sao vàng ròng
cờ Liên Xô đặt trên đầu Bác
Bến Hải làm sao mây trắng bông!

chín đoá đỏ vàng lam, sọ nở *
Gianh trong Bến Hải đánh Trung – Phnom *
Chiến tranh Lạnh – Nội chiến Vàng – Đỏ
tượng Bác, phông hào quang Trống Đồng.

T.X.A.
08:11-09:40, 30-05-2021
(từ 31-05-2021, giãn-cách-xã-hội TP.HCM. lần 2)
……………….

(*) Nguyễn Huy Lượng (1750-1808) và Phạm Thái (1777-1813, tác giả “Chiến ‘Tụng Tây hồ phú’” và “Sơ kính tân trang”). ~ Cao Bá Liên (con Cao Bá Đạt) thuộc dòng họ thi sĩ Cao Bá Quát, “Đại Nam thực lục” kỉ Tự Đức, tập XXXV, Nxb. KHXH., 1976, tr.173 ghi: truyền bá “nguỵ thư”. ~ “Mùa hè bên sông”, tiểu thuyết của Trần Xuân An (in vi tính, bản 1997 và bản đã chỉnh sửa lần cuối, 2003). ~ Cao và Phạm: Cao Bá Quát và Phạm Thái. ~ Tranh Trần Xuân An về chín đoá chiến công 1945-1989/1991. ~ Từ nối liền sông Gianh đến nối liền sông Bến Hải: Khoảng hai trăm năm, tính từ phong trào Tây Sơn khởi phát, 1771, đến Thống nhất 30-04-1975. ~ Trung – Phnom: Trung Nam Hải – Phnom Penh (Nông Pênh). ~ CŨNG XIN KHẲNG ĐỊNH SÁCH CỦA TRẦN XUÂN AN KHÔNG PHẢI LÀ NGUỴ THƯ, MÀ LÀ SÁCH HOÀ GIẢI DÂN TỘC. MONG ĐƯỢC PHỔ BIẾN VÀ LƯU TRỮ. TRÂN TRỌNG VÀ CẢM ƠN.


Bài 23

BI KỊCH
THỜI NỐI LIỀN SÔNG GIANH
Trần Xuân An

cha liệt sĩ phù Lê chống Quang Trung
Phạm theo gươm, rồi cạo đầu tu Phật
nhưng “Sơ kính”, Việt cả người lẫn đất
không mượn Tàu cốt truyện nên muôn đời

nối sông Gianh, công Tây Sơn sáng ngời
nhưng văn học mãi nâng niu “Sơ kính”
lánh cố đạo, Gia Long, thì Minh Mệnh…*
nhưng Phạm yểu, thơ vạn thọ nỗi niềm

đa dạng lắm một thời giữ chữ liêm
sáng suốt Ngô Thời Nhiệm, roi quất chết *
sáng suốt Nguyễn Huy Lượng, vinh sớm hết *
Nguyễn Du… Cả ông nữa. Đều danh thơm *

cuộc đổi đời thành hừng đông, chiều hôm
nối Thạch Hãn, tên nỗi niềm: Bến Hải
sau chiến tranh, còn ra đi, ở lại
đỏ vàng lam… Xanh nữa. Đều danh thơm

nếu không vì hàm chức và rượu cơm
suốt đời văn đau đáu cùng vận nước
màu sắc chi, chống triều sau hay trước
có sai lầm, văn học sử vẫn thương

có nhà văn, văn học sử nguyên chương
nhưng người đọc đời sau không ai đọc
Phạm Thái chống Quang Trung nhưng dân tộc
tình, rượu, tu, thơ góp một góc nhìn.

T.X.A.
chiều 05-06-2021
………………..

(*) ~ Hiệp ước Versailles 1787 giữa đại điện triều đình Pháp và đại diện Nguyễn Ánh (giám mục Pigneaux de Béhaine và “con tin” hoàng tử Cảnh) là có thật, nhưng triều đình Pháp không thể thực hiện do Cách mạng 1789 nổ ra, vua Louis XVI bị giết (1793). Do đó, hiệp ước ấy vô giá trị. Sự thật, chỉ có giám mục P. de Béhaine vận động thương nhân người Âu giúp, và Béhaine thuê khoảng một vài trăm lính đánh thuê người Âu trực tiếp huấn luyện quân, chỉ dẫn đóng tàu chiến, và trực tiếp tham chiến mà thôi. Đổi lại, sau khi đánh bại Nhà Tây Sơn, lập nên vương triều Nguyễn, chỉ có một ít lính Âu đánh thuê ấy ở lại làm quan tại Huế và Thiên Chúa giáo La Mã của Pháp được tự do truyền giáo tại nước ta. Tuy thế, triều đình Gia Long vẫn là triều đình được thiết lập theo cách truyền thống như các triều Trần, Lê của nước Đại Việt ta. Chính Gia Long Nguyễn Ánh đã dặn dò thái tử Đảm, tức vua Minh Mệnh, phải thấy mối lo mất nước bởi Thiên Chúa giáo La Mã của Pháp. Minh Mệnh là ông vua ban dụ cấm đạo Thiên Chúa quyết liệt. ~ Ngô Thời Nhiệm đỗ đạt và làm quan to dưới triều Lê – Trịnh, lại cộng tác, được bổ chức lớn và có công lớn với triều Tây Sơn. Đến khi Gia Long đánh đổ Nhà Tây Sơn, nhất thống toàn quốc, Ngô Thời Nhiệm cùng nhiều kẻ sĩ danh tiếng Bắc Hà từng cộng tác với triều Tây Sơn đều bị đánh phạt. Trong đó, Ngô Thời Nhiệm bị đánh roi đến ốm nặng và chết. Theo giai thoại, Đặng Trần Thường, cũng kẻ sĩ Bắc Hà theo Nguyễn Ánh từ lâu, khiêu khích Ngô Thời Nhiệm bằng vế thách đối: “Ai công hầu, ai khanh tướng, vào trần ai, ai dễ biết ai”. Ngô Thời Nhiệm bị trói, vẫn đáp: “Thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế” (hoặc, dị bản: “thế nào vẫn thế”). ~ Nguyễn Huy Lượng là quan triều Lê – Trịnh, cộng tác với Nhà Tây Sơn, làm bài “Tụng Tây hồ phú”, bị Phạm Thái đánh bút lại. Khi triều Tây Sơn bị diệt vong, Nguyễn Huy Lượng cộng tác với Gia Long Nguyễn Ánh, cũng được thu dụng, nhưng chức quan nhỏ hơn. Phải chăng Nguyễn Huy Lượng đã “cơ hội chủ nghĩa”, không giữ được liêm sỉ, khi Gia Long nắm quyền, hay ông tuân theo lẽ biến dịch lịch sử một khi triều Tây Sơn đã suy vong sau cái chết của Quang Trung, và bởi thái sư Bùi Đắc Tuyên lũng đoạn triều chính vì quyền lợi cá nhân, khiến các tướng bất tuân, sát phạt lẫn nhau? Nguyễn Du cũng trăn trở về tình thế lịch sử ấy: “Không có triều đại nào bền vững nghìn năm”! Theo một số tài liệu, sáu năm sau, Nguyễn Huy Lượng bị bức tử, chết (1808) – chết trước Phạm Thái năm năm. Phạm Thái chỉ chết vì bệnh. ~ Ngô Thời Nhiệm, Nguyễn Huy Lượng, Nguyễn Du và một số danh sĩ khác, hiện nay danh tính các ông đều được đặt tên đường phố, nhưng hình như chưa có đường phố nào mang danh tính Phạm Thái. Tuy nhiên, trước và sau 1975, ở Miền Bắc và ở Miền Nam đều có sách nghiên cứu, tôn vinh Phạm Thái.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2909789902628275/

Xem trích dẫn tư liệu về Phạm Thái (bài “Chiến ‘Tụng Tây hồ phú'”):
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2903426429931289/
&

MƯỠU HẬU BÀI “NỘI CHIẾN…”

Ảnh: Tượng Quang Trung – Google search


.
Ảnh: Tượng giám mục Bá Đa Lộc (Pigneaux de Béhaine, thường gọi là Cha Cả) và hoàng tử Cảnh trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn (khánh thành 1902; hạ khỏi bệ 1945).
Nguồn: Google search



Bài 24

TRƯỚC HIỆP ƯỚC VERSAILLES 1787
VÀ MẶC CẢ 1920 TRONG “TỰ PHÁN”
Trần Xuân An

sóng thần Xanh, thập giá
sóng thần Đỏ, búa liềm
xoá rồi Lăng Cha Cả *
cờ Liên Xô còn nghiêm! *

nghiêng Gianh, Bến Hải ngả
sóng ngược chiều, nỗi niềm
văn sử không tối dạ
thắp lên một cây diêm!

sông Gianh, sấm sét loá
ruột Bến Ván còn hiềm *
Gia Long không thập giá
không thập giá Lăng Khiêm… *

Hiền Lương, Đỏ “sát tả” *
quốc sỉ ngặt nghèo liêm: *
Miền Nam, thập giá hoá
công khai, đổ, ẩn tiềm!

hậu chiến Gianh, không toả
hậu chiến Bến Hải, kiềm
búa với liềm, tự nã:
biên Bắc, Kam, tận Xiêm

sóng thần Xanh, thập giá
sóng thần Đỏ, búa liềm
Xanh, Đỏ đều mặc cả
cờ Liên Xô còn kiêm!

chính thể, cờ đôi lá
đỏ hội trường, ngoài diềm
nội chiến xương máu quá
hội nhập, thư không niêm.

T.X.A.
07:45-18:02, 07-06-2021

…………..

(*) ~ Lăng Cha Cả (Lăng giám mục Pigneaux de Béhaine, còn gọi là Bá Đa Lộc) vốn được xây dựng tại địa điểm nay thuộc Phường 4, Tân Bình, TP.HCM.. ~ Quốc kì Liên Xô: nền đỏ và búa liềm vàng, ngôi sao năm cánh viền vàng (cờ Chiến thắng của Liên Xô: nền đỏ và búa liềm vàng, ngôi sao năm cánh vàng nguyên khối). ~ Sông Bến Ván (Bản Tân) ở cực nam tỉnh Quảng Nam, chia đôi lãnh thổ (1788-1793), phía bắc sông thuộc Nguyễn Huệ, phía nam sông thuộc Nguyễn Nhạc. Chính Quang Trung Nguyễn Huệ mới là người nối liền sông Gianh. Và chính Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản là người nối liền sông Bến Ván. ~ Khiêm lăng hay Lăng Khiêm: lăng vua Tự Đức (chống Pháp xâm lược và chống bành trướng Thiên Chúa giáo, mặc dù ở tình thế buộc phải kí hai hoà ước Nhâm Tuất 1862 và Giáp Tuất 1874). ~ “Sát tả” là ngữ động từ xuất hiện từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, đặc biệt nổi rõ từ thời Minh Mệnh đến Hàm Nghi, và cả sau 1945, “sát tả” thành bài trừ tôn giáo, bởi chủ nghĩa vô thần Liên Xô. ~ Quốc sỉ (sỉ dấu hỏi; liêm sỉ): nỗi nhục chung của cả nước.

HỘI NHẬP, THƯ KHÔNG NIÊM
(Hội nhập, thư THÔI niêm)
Tư liệu:
Bản sao bức thư Chủ tịch nước Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Mỹ Truman, 16-02-1946, cách đây 67 năm; nay Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tặng Tổng thống Obama, 24 – 26-7-2013.

Ghi chú thêm, 11-06-2021: 

Tổng thống Mỹ không trả lời, vì hồi ấy Việt Minh nắm chính quyền, mà Việt Minh là cộng sản. Và, Mỹ đã lợi dụng Pháp để chống cộng! 

Bức thư Chủ tịch nước Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Mỹ Truman, 02-1946

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2910851809188751/
.

Ảnh 1: Lăng Cha Cả (Pigneaux de Béhaine, 1741-1799) trước đây, tại Phường 4, Tân Bình, TP.HCM. hiện nay.

Ảnh 2: Grigori Naumovich Voitinsky (1893-1953), cục trưởng Cục Viễn đông Quốc tế Cộng sản Bolshevik (đệ tam), tại Trung Quốc, góp phần khai sinh Đảng Cộng sản Trung Quốc, là người đã mặc cả điều kiện viện trợ, đào tạo, huấn luyện cán bộ người Việt với Phan Bội Châu (xem “Tự phán” của Phan Bội Châu).
~~ Nguồn ảnh: Google search ~~

Bài 25

TU SĨ PHẬT GIÁO, PHẢI CHĂNG,
VỪA THỜ KÍNH VỪA TRÁCH OÁN BÁC HỒ
Trần Xuân An

“Nam Bắc toàn dân quy thượng chính
Á Âu thế giới kính tu mi”
 *
“chính mi” là “Chí Minh” – nói lái *
hoà thượng thờ Người nhưng trách chi?

chơi chữ thế kia sâu bí ẩn
quang minh chính đại vướng vương gì *
phải chăng, vâng, phải chăng là vậy
tâm trạng lưỡng phân cõi trí bi

tấm bé, đã vào chùa xuống tóc
đắp y vàng phủ áo sa di
“nằm vùng” vẫn lưỡng phân tâm trạng
vẫn mặc cà sa đến tử quy

không nỡ “Quốc gia tối thượng” bỏ *
chia lòng dân tộc, sử còn ghi
Phật tâm chân chính không duy vật!
tuy kính anh hùng buộc Pháp quỳ

thờ Bác, Sài Gòn thời lửa đạn
khác xa thống nhất nể ân uy
nửa thờ nửa mắng thành tâm sử
đại thắng, sóng loa đài cuốn đi!

cầm bút, lòng tôi liền Bến Hải
hiểu Người thắng Pháp, nước phân li
Mỹ, rồi vụt Hán, quên chùa khổ
theo Bác, cờ sao, chưa quốc kì!

T.X.A.
tối 11-06-2021

…………….

(*) ~ Thông tin khách quan rút ra từ bài báo “Bàn thờ Bác Hồ và câu đối của nhà sư” của nhà báo Lam Điền trên báo Tuổi Trẻ in giấy ra ngày 09-06-2021 và Tuổi Trẻ điện tử: 09/06/2021 09:25 GMT+7. ~ Chơi chữ là kĩ xảo ngôn từ. Nếu chơi chữ cho người đọc hiểu, chứng tỏ người viết quang minh chính đại, không ti tâm, tiểu khí. Nhưng chơi chữ hóc hiểm thì ngược lại. Người cầm bút chân chính không bao giờ “gài chất nổ, cắm chông tẩm thuốc độc” một cách hóc hiểm trong văn chương của mình.

NHÀ SƯ THÍCH PHÁP LAN & TỪ KHOÁ NÓI LÁI KHÔNG PHẢI HÓC BÚA?

“Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi
Chí Minh đã rõ chính mi rồi
Thi đua chi nữa thua đi mãi
Kháng chiến thế này khiến chán thôi…
… Chiến khu thóc lúa chú khiêng xơi …”

Bài thơ trên đây của nhà thơ Quách Tấn hay của ông Hồ Đệ (đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng, người Quảng Nam, đã bị Cộng sản tử hình năm 1954)?

Hồi nhỏ, học ở Tam Kỳ, Quảng Tín (Quảng Nam), tôi biết bài thơ đó còn được lưu truyền. Lâu quá, tôi còn nhớ lõm bõm như thế!

Tạp chí Xưa và Nay số 298 (12-2007) có ghi lại, theo một thông tin trên mạng toàn cầu cho biết. Tôi chưa kịp tra cứu cho rõ.

Tôi nghĩ, không bao giờ có một xã hội với hàng trăm tâm dạng người khác nhau trong một thời đại lại hoàn toàn nhận thức và phát ngôn quan điểm giống nhau.

Có những ý kiến nhận định về Bác Hồ có lẽ không nên nhắc lại, nhưng nhắc lại như tư liệu nghiên cứu lịch sử để sử học toàn diện khách quan thì vẫn tốt hơn. Đã gọi khoa học lịch sử thì phải thế. Ví dụ như nước có kí hiệu hoá học là H2O nhưng trong phòng thí nghiệm hay trong thực tiễn thiếu đi một thành phần, chắc không có nước. Nữa là, cuộc chiến chống Pháp đã thành nội chiến trong Chiến tranh Lạnh toàn cầu!

Nói cho đúng, đó không phải vấn đề cá nhân nhân vật lịch sử, mà chính là sự phân hoá xã hội trong kháng chiến, dẫn đến nội chiến trong Chiến tranh Ý thức hệ toàn cầu! Và thiết tưởng cũng cần hiểu rõ, Bộ Luật hình sự có điều khoản, cấm xúc phạm danh nhân lịch sử. Dĩ nhiên, phải tuân hành. Ở đây và nhiều trường hợp khác nữa, là giải quyết những tồn đọng lịch sử trong quá khứ.

Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về Hồ Chí Minh, Bác Hồ vẫn là anh hùng đánh thắng Pháp. Sự thật đó không thể thay đổi.

T.X.A.
12-06-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2914633582143907/

Xem bài báo tại đây:
https://tuoitre.vn/ban-tho-bac-ho-va-cau-doi-cua-nha-su-20210609085655164.htm

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2914224672184798/

Link bài thơ này tại Facebook:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2914241372183128/

Ảnh hoà thượng Thích Pháp Lan và bàn thờ Bác ở chùa Khánh Hưng, Q.3, Sài Gòn 1969, nhà báo Lam Điền chụp lại, đăng trên báo Tuổi Trẻ 09-06-2021.


.

.
BÀN THỜ BÁC HỒ VÀ CÂU ĐỐI CỦA NHÀ SƯ
(Bài của nhà báo Lam Điền đăng trên báo Tuổi Trẻ in giấy ra ngày 09-06-2021 và Tuổi Trẻ điện tử: 09/06/2021 09:25 GMT+7)

Trích nguyên văn:

(…) “Tấm trướng thờ có 4 đôi câu đối hai bên là sự dụng tâm đáng kể: Nam Bắc toàn dân quy thượng chính / Á Âu thế giới kính tu mi.

Nếu xét nội dung, hai câu trên mang ý nghĩa thông thường, kiểu trướng thờ kính trọng một người có công với đất nước: kêu gọi người dân theo về với chính nghĩa trên hết, thế giới từ Âu tới Á đều kính trọng đấng mày râu.

Câu đối dành cho ai? Đấng mày râu nào vậy?

Chìa khóa nằm ở hai chữ cuối: vế đầu kết thúc bằng chữ “chính”, vế sau kết thúc với chữ “mi”, “chính mi” nói lái là “chí minh”. Câu đối được suy nghĩ kỳ công, rồi cắt chữ trên vải, may vào tấm trướng, thiết lập bàn thờ chỉ để đánh dấu đây là trướng thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một bàn thờ ngay tại ngôi chùa ở quận 3, trung tâm Sài Gòn” (…)


(…) “Còn lối chơi chữ ở tấm trướng thờ lại có điểm độc đáo khác. Nếu các cụ đồ Nho ngày xưa thường có lối làm câu đối theo cách “quán thủ” (tức ghép 2 chữ đầu câu để mang ý riêng), thì hòa thượng Pháp Lan trong trường hợp này dùng cách quán vĩ (ghép hai chữ cuối), lại còn ẩn thêm một lần nữa qua cách nói lái, trở thành điển hình của môtip dân gian trộn lẫn với học thuật” (…)

~~ 0o0o0 ~~

Trọn bài:

TTO – Một tuần sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, buổi sáng 9-9-1969 tại ngôi chùa Khánh Hưng ở quận 3 (Sài Gòn), nhà sư Thích Pháp Lan thiết lập bàn thờ âm thầm làm lễ truy điệu Bác…

[Chú thích ảnh 1:
Bàn thờ Bác Hồ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh được giữ nguyên trạng từ năm 1969 – Ảnh: L.ĐIỀN]

Diễn ra lặng lẽ nhưng là lễ truy điệu đặc biệt đối với một nhân vật đặc biệt, nhà sư chuẩn bị cũng rất đặc biệt.

Tấm trướng thờ công phu

Theo lời kể của những vị trong sơn môn chùa Khánh Hưng, hòa thượng Pháp Lan bấy giờ hãy còn là một vị thượng tọa. Khi hay tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông đã âm thầm bàn với phật tử thân tín dùng vải thiết kế một tấm trướng thờ với quy cách dùng các chữ Hán được cắt lộng từ vải và may lên nền một tấm vải khác.

Tấm trướng thờ có 4 đôi câu đối hai bên là sự dụng tâm đáng kể: Nam Bắc toàn dân quy thượng chính / Á Âu thế giới kính tu mi.

Nếu xét nội dung, hai câu trên mang ý nghĩa thông thường, kiểu trướng thờ kính trọng một người có công với đất nước: kêu gọi người dân theo về với chính nghĩa trên hết, thế giới từ Âu tới Á đều kính trọng đấng mày râu.

Câu đối dành cho ai? Đấng mày râu nào vậy?

Chìa khóa nằm ở hai chữ cuối: vế đầu kết thúc bằng chữ “chính”, vế sau kết thúc với chữ “mi”, “chính mi” nói lái là “chí minh”. Câu đối được suy nghĩ kỳ công, rồi cắt chữ trên vải, may vào tấm trướng, thiết lập bàn thờ chỉ để đánh dấu đây là trướng thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một bàn thờ ngay tại ngôi chùa ở quận 3, trung tâm Sài Gòn.

Điều thú vị của trường hợp tự làm câu đối để thờ Bác Hồ ở đây chính là câu chuyện hình thành từ sự pha trộn giữa tâm thức dân gian và lối chơi chữ của người bình dân Nam Bộ có học.

Xuất phát từ lòng người

Câu chuyện một nhà sư tự mình vì kính ngưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh nên lập bàn thờ khi nghe tin Bác mất được biết đến khi vào đầu những năm 2000, Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TP.HCM (bến Nhà Rồng) có kế hoạch tìm hiểu sưu tầm và tổ chức phòng trưng bày đền thờ Bác Hồ ở Nam Bộ.

Thật bất ngờ, qua tìm hiểu, tại các tỉnh thành Nam Bộ có đến 40 cơ sở gồm gia đình và đền chùa lập bàn thờ Bác. Trong số đó, bàn thờ do hòa thượng Thích Pháp Lan tại chùa Khánh Hưng thiết kế với những nét độc đáo như đã thấy lập tức thu hút giới nghiên cứu và cán bộ bảo tàng.

Sau khi hòa thượng Thích Pháp Lan viên tịch năm 1994, Bảo tàng Hồ Chí Minh đón bàn thờ này về vào năm 2003. Từ đó, tại tầng 2 trong không gian trưng bày các đền thờ Bác, bàn thờ với đôi câu đối chữ Hán kỳ đặc kia được duy trì trang trọng, để vừa phục vụ khách tham quan vừa là nơi tưởng nhớ Bác trong các dịp lễ hằng năm.

Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, việc hòa thượng Thích Pháp Lan (pháp danh Trừng Tâm, thuộc dòng Liễu Quán của ngài Thiệt Diệu, tông Lâm Tế) lập bàn thờ Bác Hồ phản ánh một nét riêng của Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Nam Bộ nói riêng.

“Điều này xuất phát từ lòng người, tự ông thầy Pháp Lan thấy nên thờ Bác Hồ thì ông và phật tử của ông thu xếp để qua mắt chính quyền và làm lễ truy điệu. Việc ấy không xuất phát từ một chủ trương nào hay do ai hướng dẫn. Mà có như vậy mới trở thành giá trị tồn tại ở đời” – một nhà nghiên cứu tại Sài Gòn xin giấu tên nêu nhận xét như vậy.

Dân gian trộn lẫn học thuật

[Chú thích ảnh 2:
Ảnh hòa thượng Thích Pháp Lan – trụ trì chùa Khánh Hưng – hiện được treo tưởng niệm tại Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TP.HCM – Ảnh: L.ĐIỀN chụp lại]

Tâm thức dân gian quan niệm những ai có công, được nhiều người kính trọng và hướng về, khi chết đi đều đáng được thờ. Chính vì vậy mà giữa lòng Sài Gòn với nhiều tai mắt của chính quyền lúc bấy giờ săm soi những ai đang “hướng về miền Bắc” thì một bàn thờ dành cho Bác Hồ và lễ truy điệu vẫn được tổ chức.

Còn lối chơi chữ ở tấm trướng thờ lại có điểm độc đáo khác. Nếu các cụ đồ Nho ngày xưa thường có lối làm câu đối theo cách “quán thủ” (tức ghép 2 chữ đầu câu để mang ý riêng), thì hòa thượng Pháp Lan trong trường hợp này dùng cách quán vĩ (ghép hai chữ cuối), lại còn ẩn thêm một lần nữa qua cách nói lái, trở thành điển hình của môtip dân gian trộn lẫn với học thuật.

Tác giả bài báo: LAM ĐIỀN

-------- o0o0o --------

Tư liệu:
THƯỢNG TOẠ THÍCH PHÁP LAN (chùa Khánh Hưng, Q.3, Sài Gòn cũ) LÀ “CỘNG SẢN NẰM VÙNG” (Tôi dùng từ ngữ có tính lịch sử – cụ thể — T.X.A.)
—————————————
Nguyên văn bài viết:
Lễ truy điệu Bác Hồ giữa lòng địch
Được đăng: 06 Tháng 9 2013 trên website Ban Quản lý Lăng:
https://www.bqllang.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1616:l-truy-di-u-bac-h-gi-a-long-d-ch&catid=99&Itemid=743&lang=vi

Những ngày đầu tháng 9-1969, tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đã gây xúc động sâu sắc đến tình cảm của mọi người con dân nước Việt. Từ đô thành còn chịu sự kìm kẹp của địch đến bưng biền Đồng Tháp, đất Mũi Cà Mau, từ Nhà tù Chí Hòa, Côn Đảo đến chiến khu giải phóng, những người chiến sĩ cách mạng và nhân dân miền Nam, bằng nhiều hình thức, đã tổ chức truy điệu Người với lòng kính yêu vô hạn.

Nhiều nguồn sử liệu cho thấy, Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chùa Khánh Hưng, do Hòa thượng Thích Pháp Lan, khi đó là Thượng tọa trụ trì, làm chủ lễ với sự tham dự của hàng trăm người. Đây là nơi duy nhất ở Sài Gòn – Gia Định công khai tổ chức truy điệu Người mặc dù bị địch theo dõi, khủng bố gắt gao.

[Chú thích ảnh:
Một góc chùa Khánh Hưng]

Chùa Khánh Hưng ngày nay ngụ tại hẻm 390 đường Cách mạng Tháng Tám (thời đó là đường Lê Văn Duyệt), phường 11, quận 3, TP Hồ Chí Minh, được khởi tạo từ cuối thế kỷ XIX, do Phật tử hai vùng Khánh Hội và Hòa Hưng góp tiền của xây nên. Năm 1947, Hòa thượng Thích Pháp Lan được cung thỉnh về trụ trì chùa. Hòa thượng pháp húy Trừng Tâm, pháp danh Thiện Hảo, thế danh là Lê Hồng Phước, sinh năm 1913, quê ở làng Tây An, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, xuất gia quy y từ năm 14 tuổi.

Là một nhà tu hành yêu nước, trong kháng chiến chống Pháp, Hòa thượng vừa tiếp tục công việc tiếp dẫn hậu lai, vừa bí mật tham gia hoạt động cách mạng, được giao phụ trách an ninh Khu 4 – Mỹ Tho và giữ chức vụ Chủ tịch Lực lượng Phật giáo cách mạng Sài Gòn – Gia Định. Năm 1953, Hòa thượng được đề cử làm Tổng Thư ký Tăng đoàn Liên tông Việt Nam. Năm 1963, cùng chư tôn giáo phẩm, tham gia trong Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo, Hòa thượng đã tích cực đấu tranh chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo.

Năm 1969, được tin Bác Hồ qua đời, Hòa thượng Thích Pháp Lan vô cùng đau xót, mong muốn làm một việc gì đó để tỏ lòng thành kính tiếc thương bậc đại trí, đại nhân, đại dũng của dân tộc.

Để che mắt bọn mật vụ tay sai địch, Hòa thượng cho trang trí bàn thờ thật khéo, vừa có hình ảnh cờ đỏ sao vàng vừa bày được bài vị Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thông thường bàn thờ có mâm hoa, mâm quả. Bên mâm hoa, Hòa thượng cho bày bông trang màu đỏ thay cho nền cờ và bông điệp làm ngôi sao vàng. Bên mâm quả, Hòa thượng bày quả xoài cát Hòa Lộc màu vàng làm ngôi sao và quả mận hồng đào (quả bồng bồng) làm nền cờ. Trên bàn thờ, chỗ trang trọng nhất, nơi thường đặt bài vị có mấy chữ Hán “Quốc gia tối thượng”, nghĩa là “Quốc gia trên hết”, cũng có thể hiểu đó là bài vị “Người cao nhất nước nhà”, người đó là Hồ Chí Minh. Tuy đã công phu như vậy, nhưng những người đứng ra tổ chức buổi Lễ còn dụng tâm tìm cách thể hiện được tên Bác Hồ trong lễ cầu siêu. Trong hoàn cảnh chính quyền Sài Gòn o ép, khủng bố gắt gao, không cho bất kỳ cá nhân, đoàn thể nào công khai tổ chức truy điệu Cụ Hồ, Hòa thượng Thích Pháp Lan đã thức trọn đêm, nghĩ ra đôi câu đối:

Nam Bắc toàn dân quy thượng chính
Á Âu thế giới kính tu mi.

Vế đối thứ nhất nói được tình cảm của toàn dân Việt Nam từ Nam chí Bắc đều quy phục người vĩ nhân chân chính. Vế thứ hai nói lên tình cảm của nhân dân thế giới vô cùng kính phục đấng tu mi nam tử. Nếu chú ý, cũng có thể thấy dụng ý ở hai từ cuối mỗi vế đối: Chính, Mi nói lái thành Chí Minh, tên Cụ Hồ.

Nội dung quan trọng nhất, vấn đề quan trọng nhất của buổi Lễ truy điệu là bài điếu văn. Bài điếu phải nói được công lao của Bác, tấm lòng của nhân dân hướng về Bác, không dài quá để tránh bị cảnh sát, mật vụ chế độ ngụy quyền phát hiện khủng bố giữa chừng và phải linh hoạt dễ phi tang, không để địch ập vào dùng vũ lực thu mất. Bài điếu văn được Hòa thượng tẩm sáp ở mặt sau tờ giấy và cho đặt ngay sát nơi đứng chủ lễ hai ngọn nến to. Ban Tổ chức cũng bố trí nhiều nhà sư, chú tiểu, các Phật tử là nam thanh niên khỏe mạnh, lực lưỡng làm thành hàng rào danh dự bảo vệ lễ đàn để tăng thêm vẻ trang nghiêm, tôn kính của buổi Lễ và sẵn sàng xả thân đối phó với cảnh sát, mật vụ nếu chúng xông vào.

Theo “HCM Citynet” của UBND TP Hồ Chí Minh, đúng 2h chiều 9-9-1969, chỉ sau Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội vài tiếng đồng hồ, Lễ truy điệu Người tại chùa Khánh Hưng bắt đầu. Nhiều trí thức có tên tuổi ở Sài Gòn như bà luật sư Ngô Bá Thành, luật sư Trần Ngọc Liễng, các vị Nguyễn Long, Dương Văn Đại, Đặng Văn Ký… cùng hơn 200 thanh niên, học sinh, bà con Phật tử yêu nước đã tề tựu dự lễ. Hòa thượng Thích Pháp Lan dáng vẻ uy nghiêm, đĩnh đạc chủ lễ, giọng trầm ấm truyền cảm đọc bài điếu văn tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong không khí trang nghiêm, thành kính. Đọc xong, Hòa thượng châm tờ giấy vào ngọn nến.

Bốn ngày sau, Tổng nha Cảnh sát chính quyền Sài Gòn mời Hòa thượng đến thẩm vấn suốt từ 8h sáng đến 5h chiều. Trước lý lẽ sắc bén của Hòa thượng và áp lực của hàng nghìn người dân, Phật tử yêu nước kéo đến đấu tranh, chính quyền Sài Gòn đã phải trả tự do cho Hòa thượng. Ông tiếp tục hoạt động phụng sự đạo pháp và dân tộc, có nhiều đóng góp cho phong trào đấu tranh cách mạng, sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và tôn tạo chùa Khánh Hưng ngày thêm khang trang, tú lệ. Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, Hòa thượng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo hội Phật giáo và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chiếc bàn thờ tại Lễ truy điệu Bác Hồ do Hòa thượng chủ lễ nay được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh trong khu Bến Nhà Rồng.
Sau cơn suy tim đột ngột, Hòa thượng đã xả báo an tường, thu thần thị tịch lúc 2h30 ngày 1-3-1994 tại trụ xứ chùa Khánh Hưng, trụ thế 81 năm, hạ lạp trải qua 59 mùa an cư kiết hạ. Hơn 50 năm hóa đạo, Hòa thượng Thích Pháp Lan đã cống hiến trọn vẹn tâm huyết, tài đức cho đạo pháp – dân tộc và lịch sử đấu tranh, phát triển nền hòa bình, độc lập, thống nhất chung cả đời và đạo.

Không nhiều người có may mắn được biết nguyên văn bài điếu do Hòa thượng đọc tại Lễ truy điệu ngày 9-9-1969, do sau khi đọc xong Hòa thượng đã châm lửa hóa ngay văn bản này. Tại cuộc gặp mặt cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự – Trại Davis đầu tháng 8 này, tôi được Đại tá nhà văn Nguyễn Trần Thiết cho biết, bài điếu được Hòa thượng chép làm ba bản, hai bản khác chôn ở hai nơi bí mật nên còn giữ được. Đại tá Nguyễn Trần Thiết đã tặng tôi một bản chép lại. Tôi đã cố gắng sắp xếp, trình bày ý theo thể loại văn tế, xin được đọc như sau:

Nam mô Bổn sư Thích Ca Màu Ni Phật
Hôm nay đứng trước linh bàn, hòa vọng với khói hương nghi ngút, trước Anh linh Người vô vàn kính mến, trọn đời đã vì nước mà quên mình, vì Tổ quốc và nhân dân, Bác không sợ nguy hiểm tới tính mạng.
Nhớ linh xưa!
Bác là đấng Anh hùng vĩ nhân ái quốc đã đem từng giọt máu trừ khử loài sâu mọt, mong sao được rạng vẻ sơn hà.
Vì lẽ ấy cho nên
Bác quyết ra tay diệt giặc, phấn đấu kiên cường, đánh đuổi quân thù, oai danh lừng lẫy, trải biết bao gian lao cực khổ, lướt gió xông sương, bươn nguồn vượt suối, quyết gìn giữ giang sơn Tổ quốc
Bác là bậc hào kiệt vô song, trọng nghĩa vụ nặng hơn núi cả, tài bặt thiệp khắp toàn cầu Âu – Á, trí thông minh nổi tiếng cả Đông – Tây
Tuôn máu đỏ nhuộm cờ hồng, dựng khắp non sông đất Việt
Lấy da vàng nêu sao sáng, phất rạng bờ cõi trời Nam.
Nhớ đến Bác càng thương càng khóc.
Thấy bọn giặc thêm hận thêm thù.
Khóc là khóc đấng thiên tài lỗi lạc, đuổi xâm lăng đòi độc lập – tự do, trọn đời mải lo âu cho dân tộc.
Quê hương còn đó, nước non còn đó, uất hận thay vật đổi sao dời.
Nghĩ mấy đoạn lệ tràn chan chứa.
Nhớ công ơn cảm động can tràng.
Ôi!
Lồng lộng trời cao mây phấp phới.
Thinh thinh bể rộng sóng vơi đầy.
Nước non còn hào kiệt vẫn còn.
Anh hùng tử khí anh hùng há tử.
Lư trầm đảnh khói hương ngào ngạt, kính cẩn lòng ngưỡng đạt trước Chân linh.
Giúp sơn hà mau được thái bình, phò Tổ quốc chóng nên độc lập
Cẩn cáo đài tiền.
Cung dung khấu thủ.

Sau ngày Bác mất, kẻ thù tưởng rằng ý chí đấu tranh của nhân dân sẽ suy sụp, cách mạng sẽ đi vào thoái trào, nhưng với lòng kính yêu vô hạn lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã biến đau thương thành hành động cách mạng, tiếp tục xốc tới giành thắng lợi trên mọi mặt trận đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao. Đại thắng mùa Xuân 1975 kết thúc với thắng lợi của chiến dịch mang tên Bác, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, cả dân tộc bước vào kỷ nguyên mới, thực hiện Di chúc của Người: Xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Nguyễn Năng Lực
Theo Hà Nội mới
Thanh Huyền (st)

Xem thêm:

Tư liệu: báo SGGP

Truy điệu Bác Hồ giữa Sài Gòn

Thứ Hai, 1/9/2014 23:34

https://sggp.org.vn/truy-dieu-bac-ho-giua-sai-gon-263834.html

.

Bài 26

HỌC TẬP PHẢI BÌNH LUẬN
Trần Xuân An

viết văn chương đụng vào triết và sử
thời thế buộc hiểu chiến tranh thời mình
học danh nhân nhưng nếu không phê phán
chẳng lẽ yêu cả xấu lệch thất kinh?

sử chính trị lắm tàn nhẫn, mưu chước
sử văn chương, nhiều rượu, tình, danh, hèn
cái đẹp và cái hùng: sen, củ ấu
hương thơm và chất thép cũng đất đen

sử chính trị có lời bình chép sử
sử văn chương có lời bình soạn văn
triết tôn giáo có khế cơ bình luận
tụng ca tất, học hại nước, vô luân

cây lá ngón dĩ nhiên toàn chất độc
vỏ gương sen, vỏ củ sen, cần chê
vỏ củ ấu là thép, để tâm trắng
văn, sử, triết, bình luận, đừng si mê

đâu cứu cánh và đâu là phương tiện? *
chính trị kia! Văn chỉ một: ngôn từ
văn, triết, sử đều là đời, thấu hiểu
biết mặt tốt, mặt xấu, tâm khỏi mù

nhận viện trợ, buộc anh hùng dân tộc
cam “hành vi phương tiện” ác, sai lầm *
loá tuyên truyền, noi gương cả hạn chế
còn phụ thuộc, quan tàn bạo vô tâm!

Ngô Sĩ Liên, lời bình xưa sử cổ
những nhà Nho bình luân lí Truyện Kiều
trong cái cũ, lõi đạo đức khó cũ
triết, sử, văn, học biết trách, biết yêu.

T.X.A.
08:12-09:45, 14-06-2021
…………………..

(*) ~ Cứu cánh có nghĩa là mục đích cuối cùng. Một tiến trình có nhiều đích đến nhưng cái đích cuối cùng của các đích mới gọi là cứu cánh. “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”, có thể hiểu bằng ví dụ cụ thể: Nịnh để xin viện trợ là nhục; tiến hành chiến tranh mà hi sinh mạng dân, tiêu diệt đảng phái yêu nước khác là ác; trí trá, tàn nhẫn trong cải cách ruộng đất là bất nghĩa, phi nhân; chịu phụ thuộc dưới quốc kì ngoại cường là bán nước, phi truyền thống (phương tiện). Nhưng mục đích cuối cùng là để cứu nước, cứu dân, giành độc lập, tự do, dân chủ, có quốc kì khác, riêng của nước — quốc kì hiện nay chỉ là logos chính thể (cứu cánh). Vậy thì cứu cánh ấy có thể biện minh cho phương tiện. Tránh phương tiện chịu nhục, ác đức, bất nghĩa, tổn hại quốc thể được thì tốt hơn. Phải hiểu các “hành vi phương tiện” vừa nói là bất đắc dĩ. Nhưng cứu cánh phải ích nước, lợi dân, nhân văn, nhân đạo, chứ không phải vinh thân phì gia… ~ Staline, Mao buộc Bác Hồ phải khẳng định lập trường giai cấp, nên mới có vụ việc Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm, Trịnh Văn Bô và sai lầm để phải sửa sai các đợt cải cách ruộng đất, tiêu diệt đảng viên Quốc dân đảng còn lại…

Ghi chú thêm:
Sau 30-04-1975, có người học tập Phan Bội Châu, Bác Hồ vượt biên “ra nước ngoài tìm đường cứu nước”, chịu đứng trong các tổ chức tôn giáo, chính trị của ngoại quốc như Nguyễn Ái Quốc đứng trong Tổ chức Quốc tế đệ tam của Liên Xô thuở trước, chấp nhận sự điều khiển của Tổ chức ấy… Thật ra, trong thời thế của Bác Hồ như thế cũng đã là bất đắc dĩ, vì đó là con đường phi truyền thống, thậm chí đã bị lên án như Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh (và cả Ngô Đình Diệm nữa, cũng bị lên án kịch liệt). Nhưng cũng nên nhớ, Lê Chiêu Thống là vua, Nguyễn Ánh là chúa, chứ Nguyễn Ái Quốc không có cương vị như vậy, mà chỉ là thường dân, chịu đóng một vai trò nhỏ bé ở nước ngoài…
Tuy vậy, vĩ nhân Hồ Chí Minh đã thành công.
Dẫu sao, cũng cần phân tích rõ. Đó là con đường bất đắc dĩ, phi truyền thống, dẫn đến nội chiến, đất nước thành Điểm nóng trong Chiến tranh Lạnh, và còn hệ luỵ đến sau này.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2915653235375275/

Ảnh: Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải trước 1967 — của Tạp chí LIFE:



Bài 27

GIẢN DỊ NHẤT LỊCH SỬ
Trần Xuân An

giàu viện trợ ngoại cường Chiến tranh Lạnh
sống giản dị, sau Bác chẳng còn ai
Bác thắng Pháp, thắng vua, bằng sờn áo
bằng đôi dép cao su chỉ thay quai!

T.X.A.
08:34-09:40, 16-06-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2916999901907275/


.

Bài 28

PHÊ BÌNH BÁC HỒ
Trần Xuân An

có một kẻ cả gan phê bình Bác
ai? Nhà thơ Trần Xuân An, Bác à
thế là tốt! Hắn khen Bác cũng khá
chê, khen Bác, chỉ vì nhân dân ta. *

T.X.A.
10:12, 16-06-2021

...............


(*) Tưởng tượng một mẩu đối thoại.


https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2917039678569964/

Bài 29

TỰ TÔN SÙNG NHẤT LỊCH SỬ CHĂNG?
Trần Xuân An

triệu bài ca, tranh ảnh ca ngợi Bác
Bác tự thuật, tự treo ảnh hội trường
mức dân trí quen tôn sùng, đành vậy
đại thắng rồi, giải thánh để dân thương

kính thưa Bác, thần thánh hoá chính Bác
để lời Bác thành mầu nhiệm hơn chăng?
nói thật ra, là thủ thuật chính trị
đừng đổ thừa dân trí, khinh nhân dân!

Nguyễn Trãi xưa, Nguyễn Huệ xưa cũng thế
lá chấm mỡ, mâm đồng giả mặt trời *
biết tuyên truyền dựa lòng tin thiên mệnh
để đuổi giặc, cứu cánh vì dân thôi

nhưng nhìn ra, thế giới nay đã khác
tệ sùng bái chính trị, lạc hậu xa
lợi dụng Bác, tỏ lòng trung kiểu cũ
giải phóng đầu, ách nặng hói, tróc da!

mỗi danh nhân dân tộc có điểm sáng
không một ai sáng cả mọi điểm đâu
Bác Hồ ta đẹp nếp sống giản dị
sùng lãnh tụ, Khrushchyov xoá đã lâu!

tôn sùng Bác thành biểu tượng Tổ quốc
vì đến nay, nước chưa có quốc kì
vua là Nước, triều đại xưa là Nước
nay kính Bác, trung hiếu mới không si

ảnh tượng Bác trở thành cờ Tổ quốc
vì quốc kì Liên Xô khắp nước ta! *
viết về Bác như biểu tượng chính thể
trung với nước, hiếu với dân, mẹ cha

phê bình Bác, bao người tự phê phán
nội chiến trong Chiến tranh Lạnh, rõ rồi
“nước đã mất, kháng chiến để bán nước”
— vua lính Vàng chống Đỏ thế, Bác ơi!

T.X.A.
08:34-09:44, 17-06-2021
………………

(*) ~ Để thu phục lòng dân vốn tin vào thiên mệnh, Nguyễn Trãi lấy mỡ heo chấm vào lá thành câu: “Lê Lợi vi vương, Nguyễn Trãi vi thần”, chờ kiến ăn hết mỡ, hiển thị câu chữ ấy, thả vào dòng suối, và dân vớt lên đọc. Ba anh em Tây Sơn cũng lấy mâm đồng, đốt lửa giả làm mặt trời đêm, báo tin cho dân về sứ mệnh Trời giao phó cho họ — (Thời đại cách mạng mới thì Trời được thay bằng yêu cầu lịch sử). Dân ta rất tin tưởng, hết lòng, hết sức tôn phò. Cứu cánh cứu nước, cứu dân là sự thật lịch sử. ~ Một biến thể quốc kì Liên Xô thành quân kì của hồng quân Liên Xô, và cũng là cờ Chiến thắng Phát-xít của Liên Xô. Đó cũng là cờ Đảng và quốc kì Việt Nam.

.

.

.

.

Xem thêm:
TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ TRẦN DÂN TIÊN
Nguồn: Trang thông tin điện tử Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, 20 Tháng 05 Năm 2014 / 4053 lượt xem
http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/tim-hieu-ve-tac-gia-tran-dan-tien-594
Nguyễn Thị Thu Hằng
(Phòng HC-TH), tác giả bài viết.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2917664391840826/

Bài 30

DỰA NGOẠI CƯỜNG, ĐỘC NHẤT LỊCH SỬ?
Trần Xuân An

dựa ngoại cường, kém Bà Trưng, Lê Lợi
thua Tây Sơn, tay trắng thắng ngoại xâm
đau tiền tiêu bé nhỏ của Quốc tế
phải độc lập, để trả lời ngàn năm.

T.X.A.
08:34-09:44, 17-06-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2917675345173064/
.

.

.
Ảnh: Một biến thể quốc kì Liên Xô thành quân kì của hồng quân Liên Xô, và cũng là cờ Chiến thắng Phát-xít của Liên Xô. Đó cũng là cờ Đảng và quốc kì Việt Nam.
.


Bài 31

TRỰC QUAN SINH ĐỘNG
Trần Xuân An

Búa liềm Sao Liên Xô, sông Bến Hải
đủ cho mắt người lính cũ nhìn xưa
vua mất nước, dựa Mỹ, tưởng còn vua
Thập giá đoạt, thì Thập giá sụp đổ

Búa liềm Sao Liên Xô, vượt Hiền Lương
hai biên giới, Đỏ ta đánh giặc Đỏ
mất Gạc Ma (im Hoàng Sa), máu xương
Liên Xô rã. Ta vẫn Liên Xô đó

Búa liềm Sao Liên Xô, trông thấy rõ
đảng kì đỏ, quốc kì đỏ nước mình
rất trực quan sinh động. Thương người lính
Đỏ hay Vàng đều yêu nước, hi sinh

viết hoà giải, lòng thầm lặng hoảng kinh
đất nước mình từ lâu bị cầm cố
tiểu quốc trong Liên Xô đế quốc Đỏ
cứu cánh ơi! Độc lập để biện minh!

giá cầm cố là quốc kì không có
ảnh lãnh tụ lại trở thành quốc kì
quét sao sạch óc cá nhân chủ nghĩa?
người lính Vàng chống Đỏ thế, nhìn đi!

xưa “cứu cánh biện minh cho phương tiện”
nay trung thực là thước đo chính quyền
chất công dân trưởng thành người đọc sử
đòi quốc kì dân tộc Việt Nam riêng

Búa liềm Sao Liên Xô, chào cờ mãi
Bác kính yêu, lòng nhân dân quá đau
quốc kì riêng, hồn nước riêng quốc sử
đọng quốc sử nghìn xưa tiếp nghìn sau.

T.X.A.
20-06-2021
(viết trong đợt 2 giãn cách xã hội,
năm 2021, vì nạn dịch COVID-19)

Trọn bài:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2919743954966203/

Link tem bưu chính Liên Xô:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2919408774999721/

Tem bưu chính Liên Xô — Google search


.

.

.

.

.

.

.


KHÔNG CÓ CỜ TỔ QUỐC (QUỐC KÌ)
(trường hợp Trung Quốc)

Grigori Naumovich Voitinsky (1893 – 1953) (H.1), người góp phần chính khai sinh Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đảng kì, quốc kì Trung Quốc (H.2, H.3) cũng là phiên bản quốc kì Liên Xô (búa liềm, sao vàng), đảng kì Liên Xô (nền đỏ) và đảng huy Liên Xô (H.4), như trường hợp đảng kì, quốc kì nước ta!

Nói chung, thiết kế cờ cộng sản chỉ gồm ba thành tố:
1) Ngôi sao vàng năm cánh (cũng có thể màu trắng, màu đỏ, nhưng gốc là vàng khối hoặc viền vàng);
2) Búa liềm vàng;
3) Nền đỏ.


.

.

.

.




Comments